Chủ Nhật, 6 tháng 10, 2013

Cái chết oan khuất của nhạc sĩ Minh Kỳ



 Nha Trang là miền quê hương cát trắng
Có những đêm nghe vọng lại, ầm ầm tiếng sóng xa đưa
Nha Trang cánh đồng bao la bát ngát
Hương quê dâng lên ngào ngạt, hòa cùng sức sống yên vui ...

Ai ơi, người về cho ta nhắn với
Nha Trang quê hương dịu hiền, ngàn đời lòng tôi mến yêu ...”


Ai đã sinh ra và lớn lên ở Nha Trang, hoặc đã từng ghé lại đây đôi lần, đều không quên bài hát dễ thương này, mà cả một thời gian gần hai thập niên, đài phát thanh Nha Trang đã dùng làm nhạc hiệu mở đầu.
Cuối tháng 3/75, Nha Trang bị nhận chìm trong làn sóng đỏ.
 Người Nha Trang đã cùng chịu chung số phận. Kẻ bị giết, người bị tù đày, gia đình, bè bạn, thầy trò, chia ly tan tác.
 Số phận của nhạc sĩ Minh Kỳ, tác giả bài hát này (cùng nhiều bản nhạc về Nha Trang khác nữa) cũng đã gắn liền với định mệnh đau thương của thành phố mà ông đã được sinh ra, hết lòng yêu thương và đã gởi trọn lòng mình qua những dòng nhạc thiết tha trìu mến đó. 
Ông đã bị giết. Cái chết thê thảm và oan khuất của ông có lẽ được ít người Nha Trang, - dù còn ở trên quê nhà, hay tha phương khắp chốn - biết đến.
Người viết bài này, có cái cơ duyên được ở chung cùng một trại tù với ông, và cũng đã được tâm sự cùng ông một vài ngày trước khi ông chết.
Đầu tháng 3/75, sau khi Ban Mê Thuột mất, những đơn vị từng sống chết với Cao Nguyên có lệnh triệt thoái.
 Tôi theo đơn vị, chỉ còn một phần tư quân số, lần lượt “di tản chiến thuật” vào Cam Ranh, rồi Vũng Tàu để tái tổ chức, trước khi tham dự những trận đánh cuối cùng “cô đơn và buồn tẻ” ở những địa danh xa lạ: Cần Giuộc, Bến Lức, thuộc tỉnh Long An, ngăn bước chân địch quân đang ồ ạt kéo về vây hãm Sài Gòn.
Ngày 28/4/75, tôi và cả vợ con, theo lời hẹn của người bạn chí thân, là SQ Hải Quân, có mặt tại Bến Bạch Đằng. Nhưng đến giờ chót, trước sự ngỡ ngàng và tức giận của người bạn có lòng, tôi quyết định không cùng vợ chồng anh ấy xuống tàu di tản.

 Có lẽ anh không hiểu được là tôi cũng đã khổ tâm biết dường nào để có cái quyết định “sống chết” ấy, mặc dù tôi biết trước là rồi tôi cũng phải trả một cái giá, chắc không nhỏ.
 Tôi không đành lòng bỏ lại những đồng đội đã theo tôi từ những quê quán miền Trung, mà giờ đây đã trở nên xa tít mịt mờ trong tay giặc, và nhất là cha tôi, người cha đã làm gà trống nuôi con từ lúc tôi mới lên ba, mà tôi được tin là ông đã bị bắt và đang bị giam giữ ở đâu đó ngoài Nha-Trang.
 Tôi không thể xa ông trong hoàn cảnh khốn cùng này.
Điều đáng ân hận nhất là, dù ở lại để chấp nhận mọi điều, nhưng tôi cũng không bao giờ có cơ hội gặp lại cha tôi.
 Ông đã chết trong trại cải tạo Đá Bàn, cuối tháng 6/76, và đúng ngay vào cái đêm tôi bị chở bằng xe “bịt bùng” từ trại tù An Dưỡng Biên Hòa ra bến Tân Cảng để xuống tàu Sông Hương ra Bắc. Mãi gần năm năm sau tôi mới nhận được tin buồn.
Trại tù An Dưỡng Biên Hòa, cũng chính là nơi tôi đã gặp nhạc sĩ Minh Kỳ, và đã tâm tình cùng ông một ngày trước khi ông chết.
Tôi trình diện tại Trường Đại Học Kiến Trúc, bị đưa lên nhốt tại trại tù binh Tam Hiệp. Một tháng sau được chuyển đến trại tù An Dưỡng Biên Hòa, nằm bên cạnh phi trường quân sự Biên Hòa.
 Trại An Dưỡng này, trước là một khu quân sự, về sau được chỉnh trang lại để tiếp nhận những quân nhân tù binh của ta được miền Bắc trao trả theo hiệp định Paris. Họ được nghỉ ngơi, bồi dưỡng cả sức khỏe lẫn tinh thần ở trại An Dưỡng này trước khi trở về đơn vị cũ và gia đình.
Đến trại này, tôi gặp những anh em ở đây từ trước cùng một số mới được chuyển từ các trại khác tới. Gồm đủ các quân binh chủng, kể cả những sĩ quan biệt phái về các Bộ, và Cảnh Sát.

 Trong số này có nhạc sĩ Minh Kỳ. Tôi ở Nhà 1, còn anh Minh Kỳ ở Nhà 3 (?), cách nhau khu nhà bếp (gọi là hậu cần).
Cũng như những người Nha Trang khác, lớn lên vào những năm giữa thập niên 50, đầu thập niên 60, tôi thuộc lòng những bài hát Nha Trang của nhạc sĩ Minh Kỳ, nhưng chưa hề biết tên thật và cũng chưa được hân hạnh gặp ông. Trong Nhà 1, tôi nằm bên cạnh hai anh bạn tù lớn tuổi hơn tôi.

 Một anh từ Trường Chỉ Huy Tham Mưu, một anh làm ở Nha Quân Pháp.
Hai anh này rất tốt bụng và vui tính, có quen biết nhạc sĩ Minh Kỳ. Biết tôi là dân Nha Trang, nên có lần anh đã giới thiệu tôi với anh Minh Kỳ.
Nhạc sĩ Minh Kỳ lớn tuổi hơn tôi nhiều, nên tôi gọi ông bằng Anh và xưng em..

 Có lẽ bản tính của anh vốn thầm lặng, ít nói, và đặc biệt trong hoàn cảnh như vừa trải qua cơn ác mộng, chưa biết ngày mai sẽ ra sao này, anh lại càng ít nói hơn. 


Gặp anh vài ba lần, tôi chỉ nói lên lòng hâm mộ của tôi về những bài hát Nha Trang, mà với tôi bây giờ nó lại là những kỷ niệm vô giá. Anh thường chỉ trả lời tôi bằng một nụ cười buồn.
Một đêm, cuối tháng 8/75 (31/08/75?),vào khoảng 09:30 tối, cả trại tù đang chìm trong bóng đêm với cả ngàn người tù đang nằm thao thức, bởi tâm tư còn nặng trĩu lo âu, đang chờ đợi những điều bất trắc nào đó sẽ đến với số phận mình, bỗng một tiếng nổ long trời kèm theo những tiếng la thất thanh, và rồi tiếng còi báo động, tiếng chát chúa trên loa phóng thanh, lệnh cho tất cả “cải tạo viên” nằm yên tại vị trí, kẻ nào bước ra khỏi nhà sẽ bị bắn tại chỗ.
Khi đám tù chúng tôi chưa hết hoang mang, thì tiếng xích sắt xe tăng T 54 tràn vào trại rít lên từng chặp, chia nhau bao vây từng căn nhà. Hằng loạt bộ đội, súng gắn lưỡi lê, mặt tên nào cũng đằng đằng sát khí túa vào từng nhà, kéo cơ bẩm lên đạn, quát tháo chúng tôi đứng dậy ngay tại chỗ, hai tay để trên đầu. Tôi có cảm giác là chúng tôi sắp bị xử tử…
Chúng tôi đứng bất động như vậy cho đến gần 10 giờ trưa. Nhìn qua khe cửa, tôi thấy mấy anh em tù ở nhà 3 khiêng một số người bị thương lên bệnh xá.
Cả ngày sau, tất cả tù đều không được ra khỏi nhà, ngoại trừ đi ra cầu tiêu và ở đó cũng có đầy lính gác. Sau đó, đúng vào ngày 2 tháng 9, Quốc khánh của VC, tất cả chúng tôi được đưa lên hội trường.

 Ngồi chễm chệ trên dãy bàn trước mặt chúng tôi là những “thủ trưởng” không mang quân hàm, nên chúng tôi cũng chẳng biết họ là ai. 
Chúng tôi bị “nghiêm khắc” cảnh cáo là “có bọn phản động trong các anh đã dấu diếm vũ khí, mang lựu đạn Mỹ vào để nhằm phá hoại thành quả kách mệnh”(!).
 Sau đó chúng tôi làm “bản tự khai tội ác” và bắt đầu bài học số 1, “Đế Quốc Mỹ là kẻ thù của nhân dân ta”.
Khi ấy chúng tôi mới biết tiếng nổ tối hôm ấy đã xảy ra tại Nhà 3, làm chết và bị thương khá nhiều. Mọi dấu tích đã được thu dọn sạch sẽ, như chưa hề có việc gì xảy ra.
Có điều cái “sự cố” thảm khốc ấy, không phải như lời “lên lớp” hù dọa của mấy ông thủ trưởng, bởi một điều rất dễ hiểu là ngay từ lúc vào trại cho đến bây giờ, đã qua hằng trăm lần kiểm soát, vã lại hành trang mang theo của mỗi người tù đâu có cái gì, ngoài hai bộ áo quần, cái khăn lau mặt và bàn chải đánh răng. Tiền bạc và tư trang khác đã được “kách mạng” giữ hộ ngay sau khi nhập trại. Vậy thì một trái lựu đạn có phép màu nào lọt vào trong trại.

 Điều quan trọng hơn, là nếu người tù nào dám liều mạng mang được lựu đạn vào trại thì cũng chỉ nhằm mục đích giết kẻ thù chứ sao lại giết chết bao nhiêu bè bạn của mình?
Những câu hỏi đó đã có sự trả lời chính xác ngay sau đó. Một số bạn tù ở Nhà 3 và Nhà kế bên kể lại như sau:
Nhà 3 (chứa khoảng 80 tù nhân, đa số là SQ Cảnh Sát) nằm đối diện ngay trước Khu Trực Ban và Nhà Vệ Binh của Trại, chỉ cách nhau chừng hơn năm mét và một hàng rào kẻm gai.

 Khi ấy tổ của nhạc sĩ Minh Kỳ đang họp để phân công nấu bếp vào ngày mai, thì một quả lựu đạn được quăng vào vách tôn ngay phía sau làm 3 người chết tại chỗ và khoảng 8 người bị thương.
 Nhạc sĩ Minh Kỳ bị thương rất nặng, được anh em tù khiêng lên bệnh xá cùng với những anh em bị thương khác.
 Ông bị thương ở ngực, bụng và cổ rất nặng. Biết mình sắp chết nên trăn trối với những bạn tù: Tụi mày về nói với vợ tao ráng nuôi con tao, chắc tao không sống được.
Sau đó máu ở ngực và cổ chảy ra lênh láng. Ông vừa la vừa rên :
- Sao chân lạnh quá!
- Lạnh quá! Sao bụng tao lạnh quá! Sao ngực tao lạnh quá!
Ông chết từ từ, chết từ chân đến bụng rồi đến ngực cho đến lúc tắt thở.
Một cái chết mà chính Ông cảm nhận được, biết được nó đến với mình từng phút từng giây.
Sáng sớm hôm sau, anh em bạn tù, với sự giám sát của toán vệ binh VC, đem chôn các bạn tù vắn số của mình trên một mảnh rừng bên ngoài vòng đai phi trường quân sự Biên Hòa.
Ai cũng biết là trái lựu đạn giết chết nhạc sĩ Minh Kỳ cùng những người bạn tù khác, là do chính bọn VC quăng từ khu trực ban của Trại phía bên kia hàng rào.
(Có một số Sĩ Quan ngành đạn dược còn cho là tiếng nổ ấy có thể là tiếng nổ của đạn B40 hay B41, có sức tàn phá còn hơn cả lựu đạn).

Và cũng sau ngày ấy, chúng tôi phải chịu một trò chơi trả thù ác độc từ phía những người chiến thắng. Mỗi ngày chia nhau đi gỡ các bãi mìn trong hàng rào phi trường quân sự Biên Hòa.
Họ đã bày ra cái trò giết người dấu tay ở Nhà 3, để rồi lại lấy đó làm lý do giết tiếp những người còn lại bằng cái trò chơi đẫm máu “gỡ mìn” này.
Những bãi mìn này do Công Binh của ta thiết lập chằng chịt dọc theo hệ thống phòng thủ phi trường.

 Bây giờ, không có sơ đồ những bãi mìn, chúng tôi lại là những người không chuyên môn về mìn bẫy, có nhiều anh em giữ các chức vụ tham mưu, hay được biệt phái về các bộ khác, chưa hề thấy lại quả mìn sau ngày rời khỏi quân trường.
 Vậy mà bây giờ phải tham dự cái trò chơi bất nhân này. Ngày nào cũng có mìn phát nổ, người chết, vài người mất tay, mất chân, nhưng vẫn không làm giao động được tấm lòng của những người “kách mạng!”.
Và cũng chính nhờ được cắt cử đi đào huyệt chôn một người bạn tù chết mìn, sớm trả “nợ máu” sau ngày miền Nam “giải phóng” này, đám chúng tôi mới phát hiện được bốn ngôi mộ mới đã nằm sẳn tại “nghĩa trang” vô danh trong một mảnh rừng hoang. 

Trước mỗi ngôi mộ được đắp đất sơ sài đó có cái bia làm bằng một mảnh gổ nhỏ. Bọn chúng tôi lén đọc tên trên từng tấm bia viết bằng sơn đỏ, trong đó có tên Vĩnh My (Vĩnh Mỹ?). Đó chính là tên trong khai sinh của nhạc sĩ Minh Kỳ (Nguyễn Phúc Vĩnh Mỹ).
 Dưới sự canh gác nghiêm ngặt của đám vệ binh, tôi chẳng biết làm gì khác hơn là khi đi ngang trước mộ anh để trở về trại, chắp hai tay trước ngực và cúi đầu tưởng niệm anh cùng những bạn bè xấu số đã chết tức tưởi cùng anh.
Lòng tôi nhói lên đau đớn như vừa bị một nhát chém hư vô nào đó.

 Trong tôi vừa mới mất thêm một điều gì, mà với tôi nó trở thành thiêng liêng hơn là kỷ niệm.
 Nhiều đêm sau đó tôi trằn trọc cả đêm không ngủ. Dư âm những bài hát NhaTrang của anh lúc nào cũng văng vẳng bên tai tôi. Tâm tư lúc nào cũng mơ màng đến thành phố Nha Trang, đến ngôi trường Võ Tánh, nhớ da diết những kỷ niệm ấu thơ, của những ngày đi học, và hình dung đến từng khuôn mặt bè bạn thân quen…
 Cũng mới đây thôi, mà bây giờ tưởng chừng như đã là một quá khứ thật xa xăm, mơ hồ như kiếp trước.
Ba mươi năm chiến tranh trên quê hương đã đem lại biết bao điều bi thảm. Vậy mà sau khi chiến tranh chấm dứt lại còn nhiều bi thảm hơn. 
Cái chết của nhạc sĩ Minh Kỳ cũng chỉ là một trong hàng vạn, hàng triệu điều oan khiên bi thảm đó.
 Nhưng chúng ta xót xa và nhớ đến nhạc sĩ Minh Kỳ, bởi chính vì ông là một nghệ sĩ, một người đã sống và cống hiến cho đời bằng chính trái tim mình.
 Đặc biệt với những người Nha Trang và những người yêu Nha Trang, đã mang ơn Ông vì Ông đã cho chúng ta những dòng nhạc biểu tượng của quê nhà, mà chúng ta sẽ mang theo dư âm tiếng hát cho đến suốt cuộc đời.
Với tôi, những đau đớn này cứ tưởng chỉ chôn chặt trong lòng, không ngờ sau khi xem chương trình nhạc Lê-Dinh trên Thúy Nga Paris trước đây, trong đó nhạc sĩ Lê-Dinh có nhắc tới cái chết của nhạc sĩ Minh Kỳ, và mới đây là chương trình Huyền Thoại Lê Minh Bằng trên Asia, đã làm tôi nhớ thật nhiều đến cái chết của Ông và ngồi xuống viết lại những dòng này.

Xin được thay một nén hương lòng đốt lên cho một người đồng hương, đồng tù, bỏ bạn bè ra đi bằng một cái chết thảm thương, oan khuất…
 Cũng để được nói lên lòng tiếc thương một nhạc sĩ tài hoa đã làm Nha Trang sống mãi trong lòng người. Và nếu được phép, xin gởi một lời chia buồn thật muộn màng nhưng với trọn tấm lòng đến gia đình Ông.
Bắc Âu,

 một ngày không có mặt trời

Phạmtín anninh


Xem Steven Mai Fishing Show



Ngón Út


  Đưa anh ngón út anh cầm 
  Cái ngón ốm nhách mà em dấu hoài 
  Không đưa, anh nắm bàn tay
  Anh nâng lên mũi hỏi ai bắt đền?

   Mà đền thì nghĩ vô duyên
  Đến trời cũng sợ trước quyền yêu nhau 
  Cái mũi không có tội đâu
  Đánh hơi thấy sự ngọt ngào mới hôn

   Bàn tay thiệt đáng đánh đòn
  Biểu giơ ngón út sao còn dấu đi?
  Đưa anh ngón út khó gì
  Anh cầm mai mốt đi thi đậu liền

     Bắt bướm là bướm ngồi yên
  Hái hoa, hoa sẽ nở trên tay mà
  Chưa kể lúc em pha trà 

  Cái ngón sẽ hát bài ca con người
   Anh nâng ngón út vào môi
  Cái ngón sẽ nói những lời trái tim 
  Đừng đưa lộn ngón nghe em 
  Lỡ ai đeo nhẫn, anh tìm sao ra? 

      Bùi Chí Vinh

Em gọi đó là hạnh phúc

 
Hạnh phúc mỗi khi được anh gọi bằng cái tên yêu thương là Nhím. 
Hạnh phúc trong mỗi sớm mai được anh đánh thức bằng giọng hát thì thầm, ấm áp: "Nhím ơi. Dậy đi trời đã sáng rồi!".
Hạnh phúc là khi anh bảo: "Có ghét anh thì cũng nghe lời anh được không Nhím?
 Em đừng bỏ bữa".
 Và thế là em vùng dậy ăn ngon lành hai bát cơm rồi nhắn tin cho anh: "Em hết giận anh rồi".
Hạnh phúc là khi được anh nhắc nhở: "Gió mùa về, em đi ngủ nhớ quàng khăn giữ ấm để khỏi viêm họng nhé".
Hạnh phúc là khi em nhận được tin nhắn đầy yêu thương của anh: "Anh đã đến Thành phố Vinh. Trời mưa to và lạnh. Nhớ em, Nhím ạ".
Hạnh phúc là khi được anh trách móc: "Ai được chiều nên hay bướng bỉnh? 
 - Nhím. Ai hay dỗi, khó tính, cầu toàn? – Nhím. Ai ngang ngạnh lại hay sai hẹn? – Nhím. Ai thường mắc lỗi nhưng lại thích kết tội? – Nhím.
 Ai là người mà tôi rất nhớ nhung, yêu thương và quý trọng? – Nhím".
Hạnh phúc là khi em gục đầu vào vai anh để tìm một cảm giác thật yên bình.
Hạnh phúc là phút nắm tay anh đi giữa phố đông, nghe tim mình đang hát.
Hạnh phúc là lúc em giận dỗi bảo anh đừng đến nhưng lại mong anh đến cháy lòng.
Hạnh phúc là khoảnh khắc vòng tay ôm chầm lấy anh để khóc cho đỡ nhớ.
Hạnh phúc là tấm bưu thiếp sinh nhật anh viết: "Nhím biết không, Nhím là báu vật của anh".
Anh à, em đã hạnh phúc vì yêu và được yêu. Em hạnh phúc vì có anh.
 Thứ hạnh phúc giản dị mà chúng mình đã kiếm tìm, tạo dựng, trân trọng và nâng niu. 
Nhưng em hiểu tình yêu không phải lúc nào cũng đong đầy những kỷ niệm ngọt ngào, những ký ức tươi đẹp, hạnh phúc không phải lúc nào cũng là những niềm vui vẹn tròn, những nụ cười rạng rỡ.
Vì… trong hạnh phúc còn có niềm đau.
 Hạnh phúc thật thiêng liêng nhưng quá đỗi mong manh.
Anh và em và thời gian… Để đến lúc chúng mình nhận ra rằng:
Hạnh phúc là luôn nghĩ về nhau ngay cả khi không được ở bên nhau.
Hạnh phúc là chia tay mà bớt đớn đau và không thù hận.
Hạnh phúc là phút thanh thản, nhẹ lòng cầu chúc cho nhau.
Hạnh phúc là khoảnh khắc mình hình dung và tin rằng người kia đang hạnh phúc.
Chúc anh đủ ngay cả khi thiếu vắng em.
Chúc em bình yên ngày không có anh.
Vậy là mình đang hạnh phúc phải không anh?

                    Phương Thảo

                     

Thứ Bảy, 5 tháng 10, 2013

'Đường Nào Cũng Dẫn Đến La Mã'


"All roads lead to Rome". Đường nào cũng dẫn đến La Mã. Đây là câu nói mà tôi đã nghe từ lúc còn ở Việt Nam. Vì vậy nó nói lên ít nhất hai điều.
 Thứ nhất, nghe câu nói này ai cũng hiểu. Từ Đông sang Tây. Đó là làm gì thì làm nhưng cuối cùng nó cũng sẽ là điểm dừng chân, là điểm đến.
Thứ hai, nếu đã chấp nhận điều đó thì ai cũng phải thầm chấp nhận thêm rằng trên thế gian này, ít nhất cũng là trong vài ngàn năm trở lại đây, Rome mới thật sự là thủ đô của nền văn minh nhân loại, là điểm mọi người nên tụ họp về, để chiêm ngưỡng, để suy ngẫm và nhất là để cảm nhận về những gì được cho là đáng bảo tồn nhất.
Sẽ không có một thành phố nào có nhiều cổ vật bằng thành phố này. Cũng sẽ không có một nhà thờ nào vĩ đại hơn Toà Thánh St Peters của Thành Vatican.
Thật sự có đặt chân đến nơi này bạn mới có thể bắt đầu hình dung được sự giàu có và huy hoàng của những đại đế La Mã ngày xưa.

 Tôi nhận thấy thường đọc sách hay học lịch sử để biết thêm về một nơi nào đó là một chuyện. Nhưng đến được tận nơi, thấy tận mắt thì chúng ta mới có thể bắt đầu cảm nhận được bề dày (lẫn bề ngang) của nơi mình vừa đặt chân đến.
Thành Roma, tên chính thức người Ý gọi thủ đô của họ, là một trong những thí dụ điển hình nhất.

Thật ra đây không phải là lần đầu tiên tôi đến thành Roma.
 Trong khuôn khổ bài viết này tôi cũng không muốn chia sẻ với các bạn về tất cả những nơi tôi nghĩ nếu bạn là khách du lịch nên ghé thăm.
 Đơn giản vì có nhiều quá.
 Nếu như ở Úc toà nhà nào trên 100 tuổi sẽ đương nhiên được liệt vào hàng quốc bảo thì tôi nghĩ ở Ý mình cần phải nhân lên 10. 
Vì cứ quẹo qua một góc đường là bạn lại thấy một thánh đường to, cổ. 
Rải rác khắp cả thành phố là những công viên, cung điện, tường thành không cái nào giống cái nào.
 Mà cái nào cũng đã có mặt ít nhất vài trăm năm... trước mình!
Mặc dù tôi biết một số người cho rằng thành Roma có quá nhiều khách du lịch, too touristy, không thơ mộng bằng Tuscany hay bình yên như ở Florence nhưng tôi vẫn nghĩ nếu đã đến Ý thì nhất định bạn phải đến Rome. Cho dù nó có đắt đỏ đến đâu. 

Vì Roma là biểu tượng của nước Ý. Của những gì huy hoàng, sang trọng và đáng chiêm ngưỡng nhất về người Ý và lịch sử hào hùng của họ. Không phải đương nhiên mà mãi cho đến bây giờ, thành Roma vẫn được cho là một trong những cổ thành vĩ đại nhất thế giới, nếu không muốn nói là No. 1.
Đối với riêng tôi nó hơn hẳn tất cả những cổ thành khác trên thế giới.
Và đúng là nó cũng có đắt thật. Tôi vẫn còn nhớ lần đầu tiên qua Ý lúc còn đi học cả ngày tôi chỉ có đủ tiền mua pizza hoặc hot dog bên lề đường để ăn cho đỡ đói.

 Con  mắt lúc ấy được chăm sóc tử tế hơn cái bao tử. Bây giờ mặc dù có đỡ hơn, lần này tôi sang đây để đi làm chứ không phải đi chơi nhưng thú thật tôi cũng chẳng dám đêm nào cũng bước vô nhà hàng. 
Vì bảo đảm với bạn, chỉ cần bước vô bước ra là bạn sẽ tốn ít nhất 50 euros cho một bữa ăn ba món. Chưa tính tiền tax và tiền nước.
 Còn nếu như bạn đã lỡ thích có rượu đễ nhâm nhi thì thôi... miễn bàn.
Tiền khách sạn ở Roma cũng thuộc vào hàng đắt đỏ nhất thế giới, theo tôi nghĩ.

 Đêm hôm trước khi qua tôi đã lên mạng để check xem có cái deal “last minute” nào tốt hay không 
(vì thường book trên mạng vào những ngày cuối rẻ hơn) nhưng rất tiếc “last minute” hay có book trước vài tuần thì cũng thế. Vì không có cái nào còn chỗ trống.
Bạn có thể tưởng tượng được không khi tôi phải bỏ ra 130 euros và sau 4 giờ trên mạng tôi mới tìm được một khách sạn hạng tồi nằm cách xa trung tâm thành phố hàng chục cây số.

 Bởi thế tôi nghĩ nếu như bạn muốn có một lần được viếng thăm thành Roma trong đời và bạn không có nhiều tiền như... tôi thì đây là những điều bạn cần ghi nhớ.
Thứ nhất, bạn chỉ nên đi lúc low season có nghĩa là không phải trong thời cao điểm. Như bây giờ chẳng hạn.

 Giá cả mùa hè phải chăng hơn mùa đông vì có ít khách du lịch hơn.
Thứ hai, nếu là học sinh thì bạn nên lo làm thẻ học sinh trước khi đi vì đôi khi giá vào cửa các viện bảo tàng, cung điện có thể giảm hơn 1/3 hay chỉ có nửa giá.
Thứ ba, tránh đừng gọi taxi kể cả lúc vừa mới đến phi trường.

 Tôi biết tâm lý chung của mọi người là không biết việc đi lại sẽ ra sao nên thường bắt taxi về khách sạn cho chắc ăn.
 Nhưng qua kinh nghiệm cho thấy, từ phi trường về khách sạn, nhất là ở Âu Châu, phần lớn các phương tiện công cộng, đặc biệt là xe lửa, đều tiện lợi, rẻ và mau hơn nhiều.
Hôm tôi buộc phải dùng taxi từ phi trường về khách sạn ở Rome vì có quá nhiều đồ đạc, dụng cụ quay phim linh tinh, tôi đã phải chi 70 euros, tức là gần 100 đô mới về tới khách sạn. Sau gần 2 tiếng đồng hồ bị kẹt xe trên đường về trung tâm thành phố.

 Nếu hôm đó tôi chịu khó bắt xe lửa, chắc chắn tôi chỉ mất khoảng 1 giờ và 10 đô là đến hotel.
Thứ tư, mỗi tối trước khi về khách sạn bạn nên ghé vào các tiệm thực phẩm hoặc supermarket mua nước và trái cây để dùng cho ngày hôm sau. Bảo đảm bạn sẽ tiết kiệm được ít nhất là hơn nửa hoặc ¾ giá bán lẻ.

 Một chai nước vào supermarket mua sỉ chỉ có 40 cents.
 Nhưng ngoài cổng gần những nơi có nhiều khách du lịch giá mỗi chai nước là 4 euros. Nói thật những anh Ý bán hàng rong ở Rome làm giá còn hơn các bác ở chợ Đồng Xuân Hà Nội
 Thứ năm, bạn nên mang giày thể thao và đi bộ ở Roma hơn là mang giày da, cao gót và đi xe. Vì chắc chắn một điều bạn sẽ không thể nào cảm nhận được tất cả những gì mà Roma có thể mang lại nếu như bạn chỉ biết cỡi taxi ngắm người. Từ một góc phố cổ kính trong ngõ hẹp, một nhà thờ đứng im trong góc không một bóng người cho đến một ly kem gelatos ngay bên cạnh những bực thang của khu Spanish Steps đông đúc người qua lại, tất cả bạn chỉ có thể tận hưởng và đắm chìm vào văn hoá của người Ý nếu như bạn chịu khó rảo bộ.
Sẽ không có một thành phố nào mang đến cho bạn nhiều cảm xúc, cung bậc từ miếng ăn, cho đến quần áo, lịch sử, đền đài và nhất là tâm linh như ở Roma.

 Không cần thiết bạn phải là người Công giáo mới cảm nhận được điều này. 
Tôi nghĩ bất kỳ ai, một khi đã bước vào một thánh đường trang nghiêm, to rộng không một  bóng người qua lại (điều này rất dễ tìm ở Roma, nhất là vào ban đêm), tai chỉ nghe tiếng chân của chính mình, mắt chỉ thấy tượng, đền, những cây thánh giá, những ngọn nến lung linh khi mờ, khi tỏ, cũng sẽ cảm thấy lòng mình bỗng chùn xuống.
 Tâm bỗng như chững lại, tự xét mình xem cần phải làm gì để có thể tốt hơn.
 Hay đơn giản chỉ là một khoảnh khắc tự nhìn lại mình, sám hối.
Mười năm trước khi đến Roma lần đầu tiên tôi đã tự nhủ thầm rằng nếu như trong cuộc sống của tôi không còn gì để lo, để toan tính chắc chắn tôi sẽ chọn Roma làm nơi tôi sinh sống. Nó có đủ tất cả những gì mà một thằng con trai như tôi thích tìm đến.
Mười năm sau, tôi nghĩ tôi cũng sẽ chọn thành phố này.
Thế còn bạn thì sao?

                                                                      Trịnh Hội

Món quà của Thượng Ðế'


Tục ngữ Việt Nam có câu “Trời sinh voi, sinh cỏ,” hay “Trời sinh, Trời dưỡng.”
 Nếu quả thật là Trời - hay có người cho đó là Thượng Ðế - xếp đặt vũ trụ, thì khi sinh ra những sinh vật trên trái đất này thì Trời cũng phải cung cấp những gì cần thiết cho sự sống, đó là khí trời, nước và các loại trái cây, rau dại và thú hoang trên rừng.
 Ðó là thời kỳ sơ khai của hái lượm và săn bắt, có sự góp sức của lửa để luộc, nướng.
Sau thời kỳ này là giai đoạn gieo trồng và thu hoạch so với hái lượm trong tự nhiên tại Tây Á, Ai Cập và Ấn Ðộ...
 Nông nghiệp xuất hiện ở phía Bắc và Nam Trung Quốc, Sahel của châu Phi, New Guinea và một số khu vực của châu Mỹ.
 Cây lương thực là các loại cây trồng mà sản phẩm dùng làm lương thực cho người, nguồn cung cấp chính về năng lượng và chất bột trong khẩu phần thức ăn cho toàn dân số trên thế giới.
Hiện nay, trên thế giới có năm loại cây lương thực được trồng chủ yếu, bao gồm: ngô, lúa nước, lúa mì hay tiểu mạch, sắn và khoai lang. Trong đó, ngô, lúa gạo và lúa mì chiếm khoảng 87% sản lượng lương thực toàn cầu và khoảng 43% calori từ tất cả mọi lương thực, thực phẩm.
 Trong khi đó lương thực chính của Việt Nam đã chiếm bốn thứ là lúa, ngô, sắn và khoai lang.Nghề nông, dù có sự tiến bộ của cơ khí, cũng là một nghề vất vả, như lời Chúa Giêsu đã cảnh báo: “Các ngươi sẽ làm đổ mồ hôi trán mới có mà ăn...,” nhất là trong giai đoạn chiến tranh, bom đạn, ly tán... nông dân không được ra đồng, con người lâm vào cảnh đói, thì lúc bấy giờ những món lương thực căn bản, thô sơ như sắn khoai là “món quà” cứu tinh mà trời đã ban cho nhân loại. 
Dân miền Nam đã nếm mùi tân khổ sau tháng 4-1975 với khoai sắn và hạt bo bo (cao lương) mà trước kia chỉ dành cho gia cầm, gia súc, thậm chí có người chết đói vì không kiếm ra các thức ăn này.
 Hiện nay lục địa Châu Phi là nơi thiếu ăn nhất.
Trong trường hợp này Thượng Ðế cũng đành bất lực!Thế mà bây giờ lại có người tìm ra chân lý: “Rượu vang là món quà của Thượng Ðế!”Rượu vang (vin, wine) hay rượu chát, rượu nho cũng là một thứ.
Vào thế kỷ VI, trước thiên Chúa giáng sinh, người Hy Lạp đã biết làm rượu đem qua bán ở Pháp và từ Pháp xuất cảng rượu sang xứ Anh, nhưng sau đó, khắp Âu châu bắt đầu sản xuất rượu vang. 
Dân La Mã (Ý cổ) cũng khoái uống rượu vang Pháp hơn là rượu vang La Mã. Ðến thế kỷ thứ III hoàng đế La Mã Probus cho phép dân Gaulois trồng nho làm rượu tự do trong vùng đất do chính họ lựa chọn.
 Các nhà thờ Thiên Chúa Giáo cũng bắt đầu sản xuất và có những hầm lưu trữ rượu. Linh mục cũng đóng góp vào trong phần sản xuất và nhà thờ nào cũng có ruộng trồng nho, và có xưởng làm rượu nho riêng.
 Thời ấy, các viên chức công quyền và tôn giáo, ai nấy cũng có khu trồng nho và làm rượu, ngay cả vua chúa cũng vậy.
 Trong khi các tôn giáo khác cấm dùng chất nước uống lên men, thì nhà thờ có món rượu lễ (Sacramental Wine.)
Uống rượu vang là một nghệ thuật, phải biết uống rượu loại gì tùy theo mỗi thức ăn, và phải biết ăn món nào trước món nào sau cho đúng điệu và đúng khẩu vị. 
Từ đó ở Âu Châu có nhiều khóa dạy tổng quát các loại cây nho, vùng trồng nho, cách làm rượu, hương vị riêng biệt của mỗi loài rượu, cách lưu trữ rượu, cách phục vụ rượu (khui rượu, ly dùng rượu, rót rượu...), cách thưởng thức và phân biệt các loài rượu từng vùng cùng số năm tuổi của rượu. v.v..
.Trong khi người nghèo kiếm ăn, “ăn để sống,” thì người giàu dư dật, không phải sống chỉ để ăn, cho có ăn, mà người ta sống, để thưởng thức một bữa ăn ngon, dầu cho đó là một bữa ăn thanh đạm, hòa hợp với rượu vang cho đúng cách, sành điệu.
Mặt khác, người ta còn khuyến khích dùng rượu vang như là một liều thuốc chống bệnh, rượu vang chứa rất nhiều chất thuốc, chống lại bệnh tim, bệnh ung thư phổi và ung thư nhiếp hộ tuyến.
 Những người dân ở vùng Tây Nam nước Pháp, uống rượu vang với món gan ngỗng, số tử vong rất ít về các bệnh tim mạch, hơn những nơi khác không dùng rượu chát!
Rượu vang còn chứa đựng những chất polyphénols với những tính chất chống lão hóa (đặc biệt là chất catéchine).
 Một bài báo khác, tờ New York Times đã nhấn mạnh trên đề tài này rằng sự hiện diện của chất resveratrol trong vỏ nho ngăn chặn tác dụng của những mầm có khuynh hướng tạo ra bệnh ung thư.
 Ðàn bà mỗi ngày dùng tối thiểu hai ly rượu vang, tránh được bệnh ung thư buồng trứng, qua sự nghiên cứu của đại học Queensland ở vùng Brisbane, Úc châu. 
Và, các tạp chí y học cổ động rằng rượu chát đỏ góp phần giúp ta bảo vệ hệ thần kinh, nhờ năng tính tốt hiện diện trong vỏ nho!
Nhưng liệu những dân tộc nghèo đói nhất trên quả đất này (cũng là sản phẩm của Thượng Ðế,) trong khi không có hạt gạo, hạt ngô bỏ vào miệng, phải ăn cả vỏ cây, liệu có thể nào chữa bệnh bằng cách mỗi tối dùng hai ly rượu vang không?
 Thượng Ðế cho anh quả nho, quả táo, quả dừa, quả lê, quả sim..., có thể nói hàng nghìn loại cây trái, nhưng không hề dạy cách cho anh làm rượu vang, nên không thể nói rượu vang là món quà từ Thượng Ðế.
 Nếu có, Thượng Ðế phải đứng về phái đám đông nhân loại, phải cho lúa ngô được mùa, con bò, con dê nhiều sữa.
 Nho được mùa chỉ làm cho các nhà sản xuất rượu giàu thêm và người uống rượu có thể trả ít tiền hơn cho một chai rượu.
Theo thống kê của nghề rượu vang, trên quả đất này có 7 tỉ 180 triệu người nhưng chỉ có 100 triệu người hân hạnh được thấm môi “món quà của Thượng Ðế” còn hơn 7 tỉ người chưa hề biết đến hơi hám của mùi rượu này, như vậy không lẽ Thượng Ðế chỉ ưu đãi cho một thiểu số quá ít ỏi trong toàn bộ con cái của Người?Chai rượu đắt nhất của thế giới là chai rượu xưa gần một thế kỷ. 
Rượu sản xuất năm 1907, được chở từ Pháp cho một gia đình hoàng gia Nga năm 1916, tàu bị chìm ngoài khơi Phần Lan, mãi đến năm 1997 thợ lặn vớt được 200 chai, giá cho một chai là $275,000. Chai rượu vang rẻ nhất ở Mỹ khoảng $3.00. 
Nó quả thật không cần thiết như rau, hạt, quả cho người lớn và sữa cho trẻ thơ.
 Một thiểu số người Việt từ lúc “nhờ” Tây đô hộ, được bước vào giai cấp mới, “ăn trắng mặc trơn,” mới biết nhấm nháp chút rượu vang, và biết cám ơn Thượng Ðế, mà quên Thượng Ðế đã cho con người những món quà căn bản, như cỏ cho voi, nhưng bây giờ voi cũng không đủ cỏ mà ăn, phải xuống bản làng quậy phá.
Thượng Ðế cho loài người quặng sắt để làm cuốc, xẻng, dao, rựa, máy cày... nhưng chúng dùng món quà của Thượng Ðế để làm bom, đạn, giáo, mác.
 Thượng Ðế cho con người trí khôn để sống no đủ, nhưng chúng dùng trí khôn để tranh giành, lấn áp và giết hại nhau.
Cộng đồng kinh tế cá quốc gia Tây Phi (ECOWAS) vừa thông báo khẩn cấp đến loại người: hơn 6 triệu người ở khu vực Sahel Châu Phi đang có nguy cơ chết đói, trong đó có một triệu trẻ em. Thượng Ðế bị trói tay hay vô cảm?
Xin cầu nguyện Thượng Ðế màu nhiệm cho thế giới qua cơn hạn hán, binh đao, cho mưa thuận gió hòa, lúa ngô được mùa, con người có thực phẩm, “hàng ngày dùng đủ,” và xin đừng rêu rao cho rằng “rượu vang là món quà của Thượng Ðế” cho loài người, một sự áp đặt bất công, thiên vị, làm xấu đi hình ảnh Thượng Ðế.
                                                                    Huy Phương

Weekend nghe Duy Quang