Thứ Bảy, 24 tháng 8, 2013
20 Điều lý thú bạn nên biết
1- Cơ bắp khoẻ nhất trong cơ thể con người chính là... lưỡi.
2- Phụ nữ chớp mắt với tần suất gấp đôi nam giới và gấp tới 30 lần nếu các nàng ở bể bơi.
3- Tên người được ưa dùng nhất thế giới không phải là John hay Sharah mà là Mohamad.
4- Con gián mất đầu có thể sống tới 9 ngày trước khi nó chết vì... đói.
5- Con người chúng ta không thể dùng lưỡi liếm được cùi chỏ (khuỷu tay) của chính mình.
6- Giường ngủ trong nhà nói chung có khoảng 6 tỷ vi sinh vật ẩn náu.
7- Bản chữ cái (alphabet) của Hawaii chỉ có 12 chữ.
8- Phim hoạt hình -cartoon chú vịt Donald từng bị cấm trình chiếu ở Phần Lan vì chú vịt này... không mặc quần.
9- Nếu bạn kẻ vạch phấn ngang đường đi của kiến thì chúng sẽ không chịu đi qua.
10- Alaska là nơi mà tỉ lệ người ta đi bộ đến chỗ làm cao nhất.
11- Bạn có biết tờ giấy to nhỏ thế nào cũng có thể gập đôi đến 6 lần.
12- Trong đời 1 phụ nữ họ thường nuốt vào bụng khoảng 2kg son môi.
13- Thức ăn duy nhất mà không bị thiu là... mật ong.
14- Vừa thái hành, vừa nhai kẹo cao su sẽ không làm bạn rơi lệ.
15- Có thể dẫn con bò lên lầu nhưng đừng hòng ép nó đi xuống.
16- Walt Disney là "cha đẻ" của hình tượng chú chuột Mickey nhưng trong thực tế ông lại rất sợ chuột.
17- Ốc sên thở bằng chân của nó.
18- Châu Úc là lục địa duy nhất không có núi lửa hoạt động.
19- Vằn trên mình hổ không phải do lông mà do cấu tạo da của chúng.
20- Và có tới 80% số người đọc bài này cố thử liếm cùi chỏ của mình.
St
Phép Thử Của Socrates
Tương truyền vào thời Hy Lạp Cổ đại, một ngày nọ có người tới gặp nhà hiền triết vĩ đại Socrates và bảo “Ngài có biết tôi mới nghe được một câu chuyện xấu về người bạn của ngài không?”.
Sau một thoáng trầm ngâm, Socrates từ tốn đáp: “Trước khi nghe ngài kể, tôi muốn ngài dành một chút thời gian để lọc ra những gì ngài định nói. Tôi gọi đó là phép thử lọc 3 lớp.
Lớp thứ 1 lọc tìm Sự thật
– Ngài có tin tuởng tuyệt đối rằng những điều mà ngài định kể cho tôi nghe là sự thật?
“Không, thực ra tôi chỉ nghe người ta kể lại thôi và…”.
“Rõ rồi, chính vì thế ngài không biết những điều ngài định nói có phải là sự thật hay không”.
Socrates nói.
“Nào, bây giờ chúng ta qua lớp lọc thứ 2 được dùng để tìm ra Thiện Ý.
Ngài có khẳng định rằng ngài hoàn toàn xuất phát từ thiện ý không, khi định kể cho tôi nghe những chuyện xấu của bạn tôi?”, Socrates hỏi.
“Không, ngược lại…”
Vị khách của Socrates trả lời.
“Thế nên những chuyện xấu của bạn tôi có thật hay không vẫn là một câu hỏi”
“Xin ngài chớ vội buồn”
- Socrates nói, “có thể ngài sẽ qua lớp lọc còn lại”
“Xin ngài cho tôi biết: Chuyện mà ngài sắp kể đấy, Có ích cho tôi hay không?”.
Người kia đáp: “Không”.
Socrates nhìn vào mắt của vị khách và nói “Nếu câu chuyện ngài định kể cho tôi nghe chưa chắc đã là sự thật và cũng không xuất phát từ thiện ý và chẳng có ích gì cho tôi, thì ngài định kể để làm gì?
Và liệu tôi sẽ nghe và tin chăng?
Khi ta đứng trước một sự vật sự việc do người khác kể, ta đừng vội tin nó, mà hãy dùng phép thử lọc 3 lớp để tìm ra chân lý.
Đó chính là một kinh nghiệm sống. cho ta
St
Biệt Ly Qua Thi Ca Việt Nam
Nói đến biệt-ly là nói đến xa cách không gặp nhau nữa, là nói đến chia-ly mỗi người một ngã. Nhiều khi sau một thời -gian sẽ gặp nhau lại, nhưng cũng có-thể xa nhau nghìn năm hay vĩnh-biệt nghìn đời.
Từ cổ chí kim,từ đông sang tây, chưa bao-giờ ta nghe nói đến cuộc biệt-ly nào vui cả.
Ðã nói đến biệt-ly là nói đến xa nhau, xa nhau thường hay nhớ nhau mà nhớ nhau thì lòng luôn-luôn buồn vời-vợi. Khi thì khắc-khoải sầu-thương giữa đêm khuya thanh vắng, khi thì nức-nở lệ sầu lúc tiễn nhau đi.
Chính sự biệt-ly thường đem đến khổ đau cho con người nên các thi-nhân Việt-nam đã từng than mây khóc gió mỗi khi gặp sự ly-biệt.
Biết rằng khỗ đau là điều cay đắng ,đau thương là những quằn-quại trong tâm-hồn. Thế mà nhiều thi- nhân lại thích đắng cay và quằn-quại để dệt nên những dòng thơ ly-biệt bất-hủ ngàn năm.
Chính những quằn-quại và cay đắng đó đã làm cho nhiều thi-nhân thích-thú nên mới có bài "Thú đau thương ." xuất-hiện trong thi-ca Việt-nam.
Nếu ngày xưa ở bên xứ sương mù Anh-Quốc, thi- sĩ Lord Byron đã rên-rỉ về sự biệt-ly qua bài "When we two parted" :
When we two parted
In silence and tears
Half broken-hearted
To sever for years.
mà thi-sĩ nào đó đã dịch là :
Giờ phút chia-ly đã điểm rồi
Nghẹn-ngào lặng nuốt lệ thầm rơi
Mang-mang nửa cõi lòng tan-tác
Ly-biệt xui chi tủi trọn đời.
thì tại Việt-nam, các thi-nhân cũng rên-rỉ về sự ly-biệt còn ai-oán lâm-ly hơn nhiều. Sự biệt-ly ta thấy nghẹn-ngào nhất là sự ly-biệt của người vợ tiễn chồng ra ngoài mặt trận vào " thưở trời đất nổi cơn gió bụi, khách má hồng nhiều nỗi truân-chuyên". trong tác-phẩm Chinh-phụ ngâm của Ðặng trần Côn.
Không ai mà không rơi lệ trước cảnh người vợ đưa tiễn chồng ra ngoài mặt trận vì biết rằng ngày về của chồng "chỉ độ đào bông"và lắm lúc "cổ lai chinh-chiến kỷ nhân hồi."
Chính vì xưa nay mấy khi đi đánh giặc mà trở lại nhà,nên người vợ cảm thấy quá khổ đau như có linh-tính là sẽ vĩnh-biệt chồng ngàn năm.
Thảo nào mỗi bước đi là một bước sầu tê-tái,tâm-hồn như choáng-váng,lý-trí không điều-khiển được con tim khiến người vợ quá xúc-động nên sắp xỉu phải vin vào áo chàng :
Ngoài đầu cầu nước trong như lọc
Ðường bên cầu cỏ mọc còn non
Ðưa chàng lòng dặc-dặc buồn
Bộ khôn bằng ngựa thuỷ khôn bằng thuyền
Nước trong chảy lòng phiền chẳng rửa
Cỏ xanh thơm dạ nhớ khó quên
Nhủ rồi tay lại trao liền
Bước đi một bước lại vin áo chàng.
( Ðặng trần Côn)
Thật đúng là " Ôi! cảnh biệt-ly sao mà buồn vậy." Chàng ra đi không hẹn ngày về khiến nàng đêm đêm trằn-trọc bên chiếc gối,nhìn trăng không tài nào ngủ được vì cứ miên-man suy-nghĩ hoài về "Kẻ đi muôn dặm một mình xa-xôi" :
Người lên ngựa ,kẻ chia bào
Rừng phong ,thu đã nhuốm màu quan-san
Dặm hồng bụi cuốn chinh an
Trông người đã khuất mấy ngàn dâu xanh
Người về chiếc bóng năm canh
Kẻ đi muôn dặm một mình xa-xôi
Vừng trăng ai xẻ làm đôi
Nửa in gối chiếc,nửa soi dặm trường.
(Nguyễn-Du)
Sự biệt-ly giữa người vợ và người chồng khi tiễn chồng ra ngoài mặt trận là sự biệt-ly khổ đau nhất trong thi-ca Việt-nam vì người về chiếc bóng năm canh,vo câu muôn dặm sơn-khê mịt-mù. Ðể rồi từng đêm,từng đêm , người vợ hiền thao-thức nghĩ về người chồng và biết đâu một ngàn năm,một vạn năm không bao giờ thấy chồng trở lại quê nhà nữa.
Sau sự biệt-ly của người vợ tiễn chồng ra mặt trận là sự ly-biệt khổ đau của đôi tình nhân vừa mới yêu nhau đành phải tạm thời xa nhau vì hoàn cảnh.
Ở đất khách quê người bên dòng sông Sein tuyệt đẹp, chàng mới yêu nàng chưa được bao lâu thì nàng lại muốn về thăm quê mẹ, khiến chàng cảm thấy lòng buồn vời-vợi đến nỗi mùa đông ở Paris suốt đời là cả một cuộc biệt-ly, khi chàng tiễn người yêu về thăm quê mẹ :
Lên xe tiễn em đi
Chưa bao giờ buồn thế
Trời mùa đông Paris
Suốt đời làm chia ly
Tiễn em về xứ mẹ
Anh nói bằng tiếng hôn
Không còn gì lâu hơn
Một trăm ngày xa cách
Ga Lyon đèn vàng
Tuyết buông cuồng mênh-mang
Cầm tay em muốn khóc
Nói chi cũng muộn-màng.
(Cung trầm Tưởng)
Ðây là sự biệt-ly của đôi tình nhân tại ga xe lửa. Nhưng nhiều người cũng tại ga xe lửa , không phải họ đến để tiễn-biệt người yêu, mà để xem sự biệt-ly của kẻ đi người ở.
Ở đây không phải nơi đất khách quê người màngay tại nơi quê nhà yêu-dấu, chàng thường đón những chuyến tàu đi đến những ga xe lửa để đứng bơ-vơ xem tiễn biệt, rồi tâm-hồn cảm thấy ngẩn-ngơ và nhớ thương lan xa mấy dặm trường :
Những ngày nghỉ học tôi thường tới
Ðón chuyến tàu đi đến những ga
Tôi đứng bơ-vơ xem tiễn-biệt
Lòng buồn đau xót nỗi chia xa
.............
Kẻ về không nói bước vương vương
Thương nhớ lan xa mấy dặm trường
Lẽo-đẽo tôi về theo bước họ
Tâm-hồn ngơ-ngẩn nhớ muôn phương.
(Tế-Hanh)
Tuy-nhiên,hầu hết những đôi tình nhân đến ga xe lửa thường là để tiễn nhau đi và luôn luôn ước mơ sẽ gặp nhau lại trong một thời gian rất gần. Nhưng nếu lúc biệt-ly,chàng biết chắc chắn rằng sẽ không bao giờ gặp lại người yêu nưã,nên chàng khuyên nàng đừng quay lại nhìn chàng nưã :
Anh biết em đi chẳng trở về
Dặm ngàn liễu khuất với sương che
Em đừng quay lại nhìn anh nưã
Anh biết em đi chẳng trở về.
(Thái-Can)
Nói đến ly-biệt là nói đến buồn bã,là nói ảo-não sầu thương. Thế mà lúc biệt-ly lại gặp mưa rơi gió thổi thì cảnh ly-biệt càng thêm đau-khổ nghẹn-ngào. Nếu cổ thi có câu : "Hoàng điệp hoàng hoa cổ thành lộ.
Thu phong thu vũ biệt-ly nhân ." "Hoa vàng lá úa thành xưa. Nẽo đường ly-biệt gió đưa tiễn người.",thì ngày nay, các thi nhân cũng đưa mây gió vào thơ để làm cho sự ly-biệt thêm não-nùng ; để rồi "nước ." và "trời." cả hai đều đượm màu hương sắc của sự biệt-ly :
Ðương lúc hoàng-hôn xuống
Là giờ viễn-khách đi
Nước đượm màu ly-biệt
Trời vương hương biệt-ly
Mây lạc hình xa-xôi
Gió than niềm trách móc
Mây ôi và gió ôi
Chớ nên làm họ khóc
Buổi chiều ra cửa sổ
Bóng chụp cả trời tôi
Ôm mặt khóc rưng-rức
Ra đi là hết rồi .
(Xuân-Diệu)
Thật thế, nhiều khi "ra đi là hết rồi.", biệt-ly lắm lúc là ngàn đời vĩnh-biệt. Sự ly-biệt làm cho lòng người tê-tái vì kẻ ở người đi nên nhiều lúc cả hai đều khóc nức-nở như mưa rơi :
Thùng-thùng trống đánh ngũ liên
Bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa.
Nhiều lúc chia tay nhưng vẫn còn bịn-rịn chưa muốn quảy gót ra đi,vì sợ rằng sự đơn-côi sẽ làm cho tâm-hồn buồn thảm , để rồi "Ðể giờ lủi-thủi người đi, mai chiều quạnh-quẻ tà-huy tôi buồn." Ta hãy nghe nhà thơ Nguyễn đình Thi dệt khúc ly-biệt qua những dòng thơ lục bát thật nhẹ-nhàng :
Mênh-mông muôn lớp sóng dồn
Vè lau trăng gió bãi cồn khói sương
Nước non đây chỗ chia đường
Tương-tư mở lối đọan-trường cũng đây
Cách vời trước biết bèo mây
Chung đôi xưa nỏ sum vầy làm chi
Ðể giờ lủi-thủi ngươi đi
Mai chiều quạnh-quẽ tà-huy tôi buồn
Võ vàng đứng bến giang-thôn
Thuyền người nắng bể mây nguồn biết đâu !
Cầm tay chừ hẹn chi nhau
Sầu chia nước chảy bên nào xa hơn .
(Tống Biệt)
Chính sự lưu-luyến càng làm thêm đau khổ cho người ra đi và cũng tạo nên những khổ đau quằn-quại cho người ở lại. Bởi vì khi nghĩ đến tương-lai, ai nấy đều cảm thấy nhớ nhung đau buồn,cô-đơn và hiu-quạnh.
Vì thế,dây phút bịn-rịn lúc chia tay là phút dây gần nhau nhất mà kẻ ở người đi không ai muốn rời nhau, không muốn nghĩ đến ngày mai vì "ngày mai chàng ruổi xa, mặc kẻ nước mắt sa."Nhà thơ Phan văn Dật đã cho ta thấy rõ những sự khổ đau quằn-quại đó lúc chia tay :
Ðừng nghĩ đến ngày mai
Hôm nay biết hôm nay
Thiếp đây mà chàng đó
Chừng ấy là đủ rồi
Ngày mai chàng ruổi xa
Mặc kẻ nước mắt sa
Yên ngựa rong đường thẳng
Thức dậy lúc canh gà.
(Tiễn Ðưa)
Vì biệt-ly là u-buồn ,vì xa nhau thường nhung-nhớ rồi đưa đến sự khổ đau triền-miên qua những năm tháng dài lê-thê trong hiu-quạnh.
Vì thế mà các thi-nhân cũng như các nhạc-sĩ đã dệt những tình khúc biệt-ly thật lâm-ly bi-đát như "nghìn trùng xa cách, người đã đi rồi .
Còn gì đâu nữa mà khóc với cười ." hay "Biệt-ly, nhớ-nhung từ đây." hoặc là " Bến cũ, ngày xưa, người đi vấn-vương biệt-ly. Gió cuốn, muôn phương, về đây.
Bến ấy, người về hay chăng."
Chính vì sự biệt-ly là đau buồn chua xót,là thê-thảm não-nùng. Chính vì sự biệt-ly là khổ đau để rồi nức-nở quằn-quại bên nhau khiến nhiều người không dám nhắc lại sự ly-biệt, vì nếu khơi lại chuyện lòng xa nhau ấy sẽ thêm buồn đau cho cuộc đời.
Ta hãy nghe nhà thơ T.T.KH diễn tả ý-nghĩ ấy qua những vần thơ bảy chữ thật buồn :
Ðã lỡ thôi rồi chuyện biệt-ly
Càng khơi càng thấy luỵ từng khi
Trách ai mang cánh " ti-gôn." ấy
Mà viết tình em được ích gì.
Tóm lại, qua thi-ca Việt-nam,ta thấy các thi-nhân đã sáng-tác rất nhiều bài thơ liên-quan đến sự biệt-ly và chính sự ly-biệt đã làm cho các nhà thơ đau buồn rồi xúc-động mà dệt nên những dòng thơ lâm-ly não-nuột nghìn năm.
Dương Viết Ðiền
Thứ Sáu, 23 tháng 8, 2013
Ngôn Ngữ Huế - Hoàng Long Hải:
Người Việt Nam có câu tục ngữ “Ðất lề quê thói” hoặc văn vẻ như Hạ Tri Chương thì “Hướng âm vô cải” làm cho người ta không muốn thay đổi tiếng nói của mình.
Ngay tại Huế, kinh đô của nhà Nguyễn trước đây, nơi có nhiều người từ địa phương khác, chẳng hạn như ông Phan Ðình Phùng người Hà Tĩnh, Phạm Phú Thứ người Quảng Nam, Bà Huyện Thanh Quan người Bắc một thời lâu dài đến Huế làm cung trung giáo tập, Phan Thanh Giản người Nam Bộ đầu tiên đỗ khoa thi tiến sĩ đến làm quan sinh sống thì tiếng nói của người dân ở các miền có lẽ nào không có ảnh hưởng đến tiếng nói của người Huế hay sao?
Ðến Huế năm 16 tuổi, tôi bị người Huế chê không những chỉ vì là “dân đất sét” (người Huế gọi là “đất sec” chữ C ở cuối thay vì chữ T như người Quảng Trị) mà còn vì tôi dùng nhiều tiếng nhà quê khác nữa.
Thay vì gọi là “côông” (hai người khiêng một vật nặng bằng một cái đòn, người trước người sau) thì tôi gọi là “cò ke”, “sợi cao su” trong nam gọi là “cọng thun(g) thì tôi gọi là “chạc địu”.
Vào Nam làm việc, tôi tập tiếng Nam kẻo không thì sợ đồng bào trong Nam cho rằng tôi là người... ngoại quốc.
Ở Trị Thiên, khi về miền quê, nên nói cái “trôốc” thay vì cái “đầu”, “trốc cúi” thay vì “đầu gối”.
Nói thế đồng bào dễ hiểu hơn khỏi cần thông dịch viên. Nhưng khi nói chuyện với người Huế thì phải trở lại với cái “đầu”, “đầu gối” thì sẽ không bị chê là “dân nhà quê”.
Người Huế họ không nói “Huế ta” mà nói “Huế mình”.
Nói với người Nam, tôi nói theo cách Huế là “ngoài tui” hay “ngoài tôi”, chỉ danh Huế thì nói là “Huế tui” hay “Huế tôi”.
Nói với bạn bè Huế thì tôi nói là “Huế mình” hay “ngoài mình”.
Nhưng có gì khác giữa ta và mình?
Có chứ! Cứ so sánh:
“Một mảnh tình riêng ta với ta” của Bà Huyện Thanh Quan
và
“Một mình mình biết, một mình mình hay” trong truyện Kiều của Nguyễn Du.
Người đọc sẽ thấy sự khác biệt giữa ta với mình.
Mình khiêm nhường hơn, âu yếm hơn, thân thiết nhẹ nhàng hơn, và chơn chất hơn.
Khi bàn tới ngôn ngữ Huế, người ta thường quanh quẩn với “mô tê răng rứa” với “hí” hay “hỉ”.
Tiếng Huế nhất là tiếng Huế của mấy bà mấy cô nhẹ nhàng, dễ mến hơn “mặn mà có duyên” hơn dù khi họ mắng nhau “Ðồ tinh le” “quỷ sứ” hay đồ “Con Yêu Bánh Nậm” như tên một tác phẩm của Trần Kiêm Ðoàn.
Ngay trong tác phẩm này của Trần Kiêm Ðoàn người ta gặp không ít tiếng Huế như thế: “tinh le”, “tinh đèo đèo”, “đồ yêu”, “đồ quỷ”, “hổ ngươi”, “ôốc dôộc”, “trổ trời mà lên”, “ác nhơn thất đức”, “làm bộ làm tịch” “làm tàng”, “giựt le”, “tội tình chi rứa”, “thiệt là ngụy, “hiện ngụy” v.v...
Người khi nói “nhìn”, họ gọi là “ngó” (ngó chi tôi đồ cỏ dại hoa hèn).
Nếu có một anh con trai nào đó hay nhìn lén, hay nhìn lâu một cô gái Huế. Cô ta thấy “ôốc dôộc” và “làm đày” mà nói: “Nợ nần chi mà ngó nhau dữ dứa?”
Khi yêu ai, họ ít khi dùng chữ “yêu”. Có lẽ từ thập niên 1950, “văn minh” hơn, người ta mới nói “Anh yêu em” hay “Em yêu anh” hay “Hai người yêu nhau”.
Trước đó, họ gọi là thương. “Anh thương em” hoặc ngược lại. Chẳng hạn như trong câu ca dao:
Ðường vô xứ Huế quanh quanh
Non xanh nước biết như tranh họa đồ
Thương anh em cũng muốn vô
Sợ truông Nhà Hồ, sợ phá Tam Giang.
Phá Tam giang ngày rày đã cạn
Truông Nhà Hồ Nội Tán dẹp yên.
... Chữ “thương” hay hơn chữ “yêu”. Thương là cho hết, là hy sinh mà không đòi lui. Thương em là hy sinh cho em, có thể cả cuộc đời cho em nếu em về chịu về làm vợ, mà không so đo, kèn cựa em thương lại nhiều hay ít. Yêu thì ngược lại.
Về tiếng Huế, phải nói nhà thơ Hoàng Xuân Sơn đã đưa ngôn ngữ Huế vào thơ một cách tài tình. Ông không chỉ dùng tiếng Huế, mà còn đức cả những “thành ngữ Huế” vào thơ.
Có lẽ một số người còn nhớ bài thơ “Huế Chi Lạ Rứa” sau đây của một cô nữ sinh lớp đệ tam trường Ðồng Khánh hồi cuối thập niên 1950:
Chi lạ rứa, chiều ni tui muốn khóc
Ngó chi tôi đồ cỏ dại hoa hèn
Nhìn chi tui hình đom đóm trong đêm
Cho thêm tủi bên ni bờ cô tịch
Tui mơ ước có bao giờ tuyệt đích
Tui van xin răng mà cứ làm ngơ
Rồi ngó tui chi lạ rứa hững hờ
Cho thêm tủi bên ni bờ cô tịch
Vì là chốn kinh đô, nơi vua chúa, quan quyền sinh hoạt, vào ra thưa bẩm, cúi đầu vòng tay, khi đi tay không đánh xa vung vẩy, chân bước nhẹ nhàng, chậm rãi, không chạy nhảy la hét... Tất cả những điều đó có ảnh hưởng đến cách nói năng của người Huế.
Ngoài ảnh hưởng vua quan ấy, còn nhiều ảnh hưởng khác nữa: Phật Giáo, Nho Giáo khá sâu đậm.
Cái “nhu hòa” của đạo Phật, cái “khuôn phép” của đạo Nho tất không chấp thuận những cách nói năng “dao to búa lớn”, nhất là đối với đàn bà con gái; con gái thường phải tập công, dung, ngôn, hạnh.
Dĩ nhiên, không ai có thể nói toàn bộ mọi người là như thế, nhưng những ảnh hưởng nói trên với số đông người Huế không thể là không có được.
Bên cạnh những “nhu hòa nhã nhặn đó, không thể không có “giọng nói vua quan” mà người Huế thường gọi chung là “giọng các mệ”.
Ðến Huế, ở tại nhà một người bà con tôi gọi bằng chú thím.
Tôi ngạc nhiên và cảm thấy ghê ghê khi bà thím mắng yêu đứa con trai út của bà: “Quất cho một roi đứt cái đầu”.
Các thành ngữ “chèm đầu bây chừ”, “chém đầu cho tau” là tiếng các mệ dùng để mắng thiên hạ.
Trong cuốn “Nếp Nhà” của Bửu Kế, ông có thuật câu chuyện một mệ (ông Bửu Kế cũng là mệ đấy!) ngày xưa giàu có lắm, nay thời thế đổi thay, “sa cơ lỡ nghiệp”, nhưng “giọng các mệ” thì vẫn còn y chang.
Một hôm, đói quá mệ xin người quen hai hào để mua một củ khoai ăn cho đỡ đói lòng, nhưng cách xin và cách nói của mệ vẫn ý như lúc còn “làm cha thiên hạ”:
- Ðưa mệ hai hào ra mệ “chém” một củ khoai.
Không chém được đầu ai mệ chém củ khoai vậy.
Hoặc một lần mệ cùng bạn bè vào vườn nhà người ta trộm bưởi, bị chủ nhà đuổi bắt.
Bạn bè chạy cả. Mệ kẹt trên cây, không chạy kịp, sợ thì sợ nhưng mệ vẫn còn “giọng các mệ”.
- Xê ra dưới cho “mệ xuống”.
(Trích “Viết Về Huế”)
Hoàng Long Hải
Nỗi Buồn Nhớ Quê Hương
Tôi là gái Bắc, lớn lên ở Sài Gòn, nhưng lạ lùng làm sao, tôi không nhớ Hà Nội bao nhiêu. Không yêu Sài Gòn nhiều lắm. Mà chỉ xót xa đến Huế, Huế nghèo.
Thành phố chỉ có vài con đường chính. Huế nóng cháy da, mềm thịt. Huế lạnh buốt, lạnh từ lòng lạnh ra. Dường như Huế chỉ thực sự huyền ảo, đẹp, nên thơ bời những nghệ sĩ khi viết về quê hương của mình. Có lẽ đó là điều dĩ nhiên của mọi người, mọi miền khi viết về nơi mình đã được sinh ra. Âu cũng không phải là điều làm cho ta ngạc nhiên.
Nhưng không phải vì những điều người Huế viết về Huế đã làm tôi yêu Huế. Vì nếu như vậy thì tôi phải yêu Hà Nội nhiều hơn mới có lý. Phải yêu Sài Gòn nhiều hơn, phải yêu Đà Lạt hơn mới phải. Vậy mà tôi yêu, thỉnh thoảng gặp lại một vài người bạn, tôi năn nỉ "mi" "noái" cho tau nghe chút cho đỡ "dớ".
Con gái Huế nói như hát, dịu dàng, đi đứng khép nép nhẹ nhàng. Có một cái gì thật mong manh, như tơ, như sương, khói, như một điều không có thật trong con người của các cô gái Huế. Tôi có cảm tưởng họ không phải là sự hiện hữu.
Một chút hương khói hư ảo chập chờn. Chỉ một tiếng động khẽ dù là tiếng rơi của một chiếc lá, cũng đủ làm tan biến đi tất cả. Mười ba năm qua, chỉ xin nói cho nghe vài câu cho đỡ nhớ "nhà". Như thế là yêu đấy, nhiều mới khổ chứ. Dù tôi chỉ biết Huế sau Tết Mậu Thân và không quá 10 lần ghé Huế. Nhưng tôi yêu Huế bởi từ Huế tôi mới biết thế nào là tình yêu.
Tôi không muốn nhắc đến, những điều đã được viết quá nhiều về một nơi chốn. Tôi chỉ muốn viết về "Huế của riêng tôi", và như vậy cũng có nnghĩa là mở ra cánh cửa của kỷ niệm, của những huân hoan đau đớn, những ước mơ không thành, những dằn vặt ám ảnh, đeo đuổi tôi trong suốt 13 năm qua .
Mười ba năm trước đã không thành, không nói. Thì bây giờ lẽ ra càng không nên nói. Bởi vì dù có thêm 100 năm nữa "Hai mái đầu xanh giờ đã bạc" cũng chẳng còn bao giờ gặp lại nhau. Nếu có chăng nữa, thì cũng là kiếp sau. Nhưng "Tình tưởng đã yên mà tâm còn động vọng".
Thì ra 13 năm với tôi vẫn còn là cơn mộng. Chưa thoát ra được. Không thoát ra được. Không muốn thoát ra. Còn cố gắng bao che, tự lừa dối mình. Chỉ là một cơn mộng. Đêm sẽ qua, mộng sẽ tàn. Ta sẽ tỉnh. Thấy tóc vẫn xanh với lời dặn xưa "Qua đèo Hải Vân, nhớ cột tóc, kẻo gió bay nghe em".
Mộng đã tàn. Tôi đã tỉnh với đau đớn. Thì thầm một mình "khóc đi chứ". Còn khóc được là biết mình còn sống, còn khóc được là biết Huế còn đó trong trái tim, trong tận cùng đáy sâu thống khổ, khốn cùng của một kiếp người mà hạnh phúc cùng đồng nghĩa với bất hạnh.
Tôi vốn là một đước trẻ mồ côi cha. Cha tôi chết trong trại Đầm Đùn sau 4 năm giam hãm. Học hành dở dang, vài năm trường tây, vài năm trường ta. Trường học chẳng dạy tôi điều gì. Gia đình chẳng dạy tôi điều gì.
Nên tôi tự dạy tôi ra đời năm 16 tuổi. Đi hát nhưng không bao giờ nghĩ mình lại trở thành ca sĩ. Hát vì thích hát. Điều này tôi hoàn toàn bị ảnh hưởng bởi ông bố có nhiều nghệ sĩ tính nhưng lại đi theo kháng chiến và chết đau thương trong lao tù.
Không có tình thương của cha, không hợp tính với mẹ. Ngoài ý thích được hát, tôi không biết mình phải làm gì. Đời sẽ cho tôi những gì và tôi sẽ có được những gì.
Tôi quờ quạng sống lang thang giữa đám bạn bè tốt bụng, nay đứa này cho bịch gạo, mai đứa kia cho nửa chai nước mắm. Nghèo mà vui tôi không buồn vì nỗi bị gia đình hắt hủi, từ bỏ.
Tôi như một thằng con trai, giữa đám bạn trai. Tuy không có cái cảnh vườn đào kết nghĩa nhưng cho đến giờ đây, gần 30 năm qua, có đứa đã ra đi mãi mãi, có đứa nửa điên nửa dại, có đứa nhà cao cửa rộng, vợ con đề huề. Thỉnh thoảng gặp lại, tưởng như 30 năm chỉ là một ngày. Cũng tưởng đời sẽ lêu bêu mãi cho đến ngày cuối, nhưng nếu định mệnh là điều có thật, thì điều đó đã đến với tôi một đêm mưa tại Đà Lạt.
Dáng người mảnh khảnh, cặp kính trắng tròn, gọng đồi mồi, cặp mắt bồ câu, vầng trán rộng, sống mũi thẳng, nụ cười đẹp, tươi với chiếc răng khểnh, người con trai đó nói với tôi bằng giọng Huế. Dân Đà Lạt, đa số nói tiếng Huế tuy hơi lai, nhưng Sơn là "Huế chay".
Sơn với hai bàn tay gày guộc, những ngón tay dài tài hoa, chắp cho tôi đôi cánh, xỏ vào chân tôi đôi hia bảy dặm. Cô bé lọ lem lột xác. Lột xác để từ một đoạn trường này bước sang một đoạn trường khác.
Từ Sơn, tôi đã thành danh, nhưng đó cũng chưa hẳn là điều tôi mong muốn. Tôi có cảm tưởng như vậy. Có phải đời sống là như thế hay sao? Thế là đủ hay sao? Nếu thiếu thì thiếu cái gì và tại sao thiếu?
Đời sống tầm thường thế thôi sao? Một đứa trẻ mồ côi, bị gia đình hắt hủi - luôn luôn thèm một mái ấm gia đình, một lời nói ngọt ngào của mẹ, thèm từ một cái áo, một đôi giày. Mà phải là gia đình nghèo khó gì cho cam. Chỉ vì ... đúng là tôi sinh ra dưới một ngôi sao không mấy đẹp.
Lúc sống lang thang như một người lãng tử, tôi thường tự hỏi mình nhu cầu gì cho đời sống. Sống trong đời sống mình phải có những gì? Tình, tiền, danh vọng? cho đến lúc nghĩ rằng mình đã có đủ những điều mơ ước, tôi vẫn luôn luôn âm thầm. Hình như không phải như mình nghĩ. Cuộc sống, đời sống, con người sống trong đời chỉ tầm thường thế sao?
Một hôm tôi hỏi Sơn: Sống trong đời sống mình cần phải có gì? làm gì? Sơn cười ngón tay dài khẽ đẩy cái gọng kính đang trễ xuống.
Câu trả lời ngắn gọn: Cần có một tấm lòng. Tôi nhìn Sơn: "Một tấm lòng?" ở giữa thế kỷ này, giữa thời gạo châu củi quế, giữa thời giá trị của một con người được đánh giá bởi áo quần, nhà cửa, vòng vàng, hột xoàn...Một tấm lòng để làm gì? Sơn nhìn tôi, ngón tay lại đẩy cao gọng kính. "Sống trong đời, ta luôn luôn phải sống với một tấm lòng, phải có một tấm lòng, dù không để làm gì cả, dù chỉ để... gió cuốn đi.".
Tôi nhìn sững Sơn không nhớ bao lâu, nhưng chắc là lâu lắm. Cứ ngồi nhìn anh, nhìn vầng trán mênh mông, cúi xuống thật thấp, ngón tay gầy trên nhựng sợi dây đàn.
Chiều xuống lúc nào không hay, gió từ sông Hương thổi mạnh. Hình như trời muốn chuyển mưa. Hình như lòng tôi cũng đang chuyển động dữ dội. Một ánh sáng kỳ lạ nào đó vừa chiếu rọi vào cõi tôi u tối, ngu muội.
Hình ảnh con nhỏ bụi đời, lúc hàn vi chợt sừng sững trước mắt tôi. Cái ngõ tối lầy lội đường Phan Thanh Giản, cái nhà sàn cầu sắt Đa Kao. Những buổi chiều nằm trên đồi sân Cù Đà Lạt, khóc một mình. Tất cả chợt sống lại hay đúng hơn, ở một lúc nào đó tôi đã chết rồi.
Và chiều nay bên dòng sông Hương êm đềm thơ mộng - vầng trán mênh mộng, giọng nói dịu dàng, ánh mắt thăm thẳm, bao dung, Sơn kéo tôi khỏi cái chết ngu xuẩn. Sông vẫn chảy đời sông, suối vẫn trôi đi đời suối, đời người cũng dễ sống và hãy thả trôi đi những niềm đau.
Hai mươi năm qua, tôi sống như lời Sơn nói, như điều Sơn muốn. Còn có ai thấy được hay không, điều đó không cần thiết. Chỉ cần Sơn không thất vọng - điều đó đủ rồi.
Những ngày tháng ở Huế, gần Sơn và gia đình. Đó là khoảng thời gian hạnh phúc nhất của đời tôi.
Sáng Đông Ba, chiều Vỹ Dạ, tối họp nhau ở Cercle
hoặc nhà anh chị Lễ, đàn hát ngâm thơ.
Sơn yêu thơ Nguyễn Bính, bắt tôi
ngâm đi ngâm lại bốn câu: "Mà sao giấc ngủ không dài. Mà đêm xuống ngắn
mà trời cứ mưa. ở đây tôi sống như thừa. Có đêm men rượu tạm vừa lòng
nhau." Có bao giờ Sơn hiểu rằng, dù rượu có hết mà sầu vẫn không vơi.
Sơn ơi, Huế ơi, "Nỗi sầu như tóc bạc, cứ cắt lại dài ra"...
Khánh Ly
Khánh Ly
Đợi Chờ
Khoảng trống mênh mông, khoảng trống buồn
Cuộc đời chữ nhật, tròn hay vuông
Mà khi trời lặn và đêm xuống
Chỉ thấy quanh ta bốn bức tường
Trắng ngã đôi tay, sầu đượm sầu
Chiếc thuyền cô độc ghé về đâu
Ðã hay định mệnh thường dâu bể
Mà nghĩa ân tình cũng nhạt mau
Giọt dài, giọt ngắn, giọt nào vương
Ðêm vắng mình ta, ai có thương?
Từng giọt mềm môi nghe mặn đắng
Tình xa, tình đợi, bến sông Tương
Giọt lệ lạc loài, giọt lệ rơi
Ai thương, ai tiếc cánh hoa đời
Sầu giăng khung cửa, sầu vương mắt
Vẫn đợi, vẫn chờ một bóng thôi!
QHuong
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)