Thứ Ba, 14 tháng 1, 2014

Email thứ bảy


Phương thích nghe vọng cổ không?
 Trong nhà có cất giữ bài ca vọng cổ nào không?
Tôi hỏi vậy, vì tôi đang nghe một bài vọng cổ, rất buồn, về thân phận của cô gái đi ở mướn.
Buổi trưa khi ngủ dậy, sợ cái nắng vàng ngoài sân bóp nghẹt mình, tôi thường giả vờ bận rộn, ít nhất là làm cho ý nghĩ mình bận rộn.
Tôi nghĩ về bài vọng cổ, về chữ "nàng" mà một tác giả tôi chưa biết tên đã dùng, để gọi cô ôsin, cô ở mướn.
"Nàng" là một chữ mà với tôi dội lại rất nhiều hình ảnh. Nó gợi lên trong tôi vẻ đẹp, sự sang trọng, thanh thoát, nhã nhặn, hơi cầu kỳ và xa vời. "Nàng" thuộc về tầng khác, lớp khác.
Tôi thường mắc cỡ chết giấc khi có ai đó đùa gọi, nàng ơi!
Chữ "nàng" không thuộc về tôi, như không thuộc về người quét rác, người buôn gánh bán bưng, người gặt lúa trên đồng…
Tôi từng nghĩ vậy, nhưng người nghệ sỹ viết bài "người ở mướn" làm tôi ngơ ngác, khi viết rằng, "vì nỗi khó khăn nàng lìa xứ xa nhà…".
Nghe đầy vẻ trân trọng, nhiều thương cảm, không có gì nghịch lý, mỉa mai. Tôi bỗng dưng nghĩ, người viết lời ca này hẳn là người nhân hậu, dịu dàng.
Tôi nhớ nhà thơ già mà tôi gặp ở Quy Nhơn, trong một sáng lấm tấm mưa. Ông đi xe đạp lại chỗ tôi, uống cafê bên biển.
Gặp ông chỉ một lần, năm năm trước, trong buổi buffet chiêu đãi của một tờ báo mà ra về tôi và ông đều đói, tội, quê mùa quá nên lóng ngóng.
Năm năm, hai ngón tay kẹp điếu thuốc đã khô queo quắt, mỗi làn khói bay ra từ miệng ông, có cảm giác như xương thịt ông cũng đang bốc hơi đi.
Giữa những lời thăm hỏi, ông ngó tôi, chậm rãi, "văn chương và người làm văn chương đều rất đẹp, cháu à, chỉ là một số người khiến nó không đẹp nữa…".
Tôi nghe điều đó đã nhiều lần, người ta còn viết những bài dài xưng tụng cái đẹp cao quý của thi nhân.
Vẻ đẹp được chảy tràn trên giấy, còn họ giấu bia chiêu đãi trong túi áo, họ đánh nhau, họ nhục mạ nhau, sao chép tác phẩm nhau…
Tôi tin rất ít, giờ tôi đã tin nhiều, vì ông.
Người viết ra những bài thơ tôi ghi chi chít trong sổ tay,
"Trong hoa
tôi nhìn thấy những bàn tay người trồng hoa lấm bùn đất
nhìn thấy những người bình thường đã tạo ra những vẻ đẹp khác thường…"
.Câu từ giản dị và trong lành, ông mang vẻ đẹp của người phụ nữ bán bánh mì, chị công nhân quét đường, người trồng hoa, bà mẹ tảo tần quang gánh… đến cho tôi.
Như cái sáng mưa ấy, ông khăng khăng bảo tôi cứ ở khách sạn và chờ ông đạp xe tới. Xe không chống chân, ông dựa nó sát hàng rào
. Ông đẹp hơn cái đẹp mà tôi lưu giữ trong lần gặp đầu.
Ông đứng về phía những bài thơ của mình, ông đẹp như chính những câu thơ về thân phận những người bình thường, thương khó.
Hôm đó, ông kể về người bạn quá cố của ông, Trần Quang Long, người viết bài thơ Tố Chân,
"Maria Tố Chân
Anh yêu em vô cùng…", rồi đọc mấy câu từ "Bài thơ của một người yêu nước mình" của người bạn cũ Trần Vàng Sao
"Đôi khi chợt nhớ một tiếng cười lạ
Một câu ca dao buồn có hoa bưởi hoa ngâu
Một vết bùn khô trên mặt đá
Không có ai chia tay
Cũng nhớ một tiếng còi tầu…"
.Ông nói về sự quyến rũ đến từ những điều giản dị, thơ bạn bè ông thô mộc nhưng đọc tới đâu thấy run rẩy tới đó.
Người ta ngây ngất trước sự hào nhoáng, mê mẩn trước sự bóng bẩy, nhưng chỉ rơi nước mắt trước sự giản dị tự đáy lòng.
Buổi sáng biển mù, ông kể chuyện quê nhà, Huế và mẹ già, về cô em họ mỗi lần ra thành phố rực rỡ áo pull quần bò, một bữa ông về làng, cô chở rơm trên xe bò, áo rách và nón rách che lấy mặt.
Ông dừng lại bảo, nghèo nên mặc xấu, việc gì phải ngượng. Ông kể cái làng Niêm Phò nghèo đến nỗi, cho người dì đau yếu hai mươi ngàn, dì thảng thốt, cho chi mà nhiều rứa, con.
Ông ngước ra biển, như tránh nhìn vào ly cafê đắt tiền mà ông đang uống.

 Và cho tới khi ông cọc cạch đạp xe ra về, ông không nói bằng lời, mà sao tôi nghe rõ từng tiếng một, người nghệ sỹ, người viết đẹp luôn nhớ và ở lại người nghèo, dù cho đám đông đã thực sự rời xa và quên lãng họ.
Lời dặn dò này ông đã gửi đến tôi, trong từng bài thơ ông thủ thỉ với cuộc đời.

 Và đôi lúc, tôi nhớ tới điều đó khi mở ra những trang báo, nhìn bức ảnh những đứa trẻ đi nhặt rác, ngắm bức tranh tường rêu phố cổ với người bán hàng rong ngồi xa vắng, hay trong bài vọng cổ trưa nay.
Bài ca hay quá, Phương ơi.


Nguyễn Ngọc Tư

Thứ Bảy, 11 tháng 1, 2014

Thi Sĩ Vũ Hoàng Chương: Sài Gòn Rong Chơi Ký


Trên phương diện học thuật, không ai có thể phủ nhận Vũ Hoàng Chương là một trong những cây đại thụ của thi ca Việt Nam cận đại.
Theo nhận định của nhiều nhà phê bình văn học thuộc nhiều thế hệ, so với các nhà thơ đồng thời, thơ Vũ Hoàng Chương có những nét riêng trau chuốt từng câu, từng chữ, giàu nhạc điệu, nhẹ nhàng, sâu lắng, lãng mạn và sang trọng.
Ông sinh ngày 5/5/1916 tại làng Phù Ửng, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, Nam Định (nay thuộc về Hưng Yên). Vũ Hoàng Chương đỗ tú tài Pháp năm 1937.
Sau đó, theo học Trường Luật rồi cử nhân toán tại Hà Nội, nhưng tất cả cũng chỉ được một vài năm rồi bỏ, để theo nghề dạy học và làm thơ cho đến cuối đời.
Năm 1954, ông di cư vào Nam, tiếp tục dạy văn ở một số trường trung học, và Trường Đại học Văn khoa Sài Gòn. Vũ Hoàng Chương mất ngày 6/9/1976, khi vừa tròn tuổi 60.
Tôi là một người may mắn, khi có một thời gian được tiếp xúc và gặp gỡ thi sĩ Vũ Hoàng Chương dường như mỗi ngày.
Đó là vào khoảng cuối năm 1973, đầu năm 1974, khi vợ chồng ông đang tá túc tại nhà nữ sĩ Mộng Tuyết, trong một căn phòng được ông gọi là “gác mây”, nằm cuối đường Nguyễn Minh Chiếu (nay là Nguyễn Trọng Tuyển, quận Phú Nhuận).
Lúc bấy giờ, tôi đang giữ trang thơ của nhật báo Sóng Thần. Một buổi sáng, vừa bước vào tòa soạn ở số 133 Võ Tánh (nay là Nguyễn Trãi), đã thấy nhà văn Chu Tử (chủ bút) đang ngồi uống trà với Ngọc Thứ Lang (người dịch cuốn Bố Già) và nhà thơ Hoàng Trúc Ly.
Bỗng dưng có ai đó nhắc đến thi sĩ Vũ Hoàng Chương và nói ông đang bệnh nặng.
Không hỏi thêm một câu nào, ông Chu Tử quay sang ra lệnh cho tôi, xuống ban Trị sự, lấy tiền mua vài lạng thuốc phiện đem biếu cho thi sĩ Vũ Hoàng Chương.
Nghe thế, tôi rất vui khi biết mình sắp được gặp gỡ nhà thơ lớn mà mình ái mộ từ lâu, nhưng chỉ nghe danh chứ chưa được diện kiến lần nào. Dọc đường, tôi cứ phân vân không biết phải xưng hô với thi sĩ Vũ Hoàng Chương như thế nào cho phải phép.
Cuối cùng, tôi quyết định sẽ gọi ông bằng thầy và xưng em là ổn nhất.Không có gì khó khăn để tôi tìm ra nhà nữ sĩ Mộng Tuyết.
Gọi là “gác mây”, cái tên nghe rất thơ mộng, nhưng thật ra, đó là một căn phòng nhỏ, chỉ hơn 20 thước vuông, không có lấy một thứ đồ đạc nào đáng giá.
Trên một chiếc đi văng bằng gỗ, được trải mấy tấm chiếu hoa, Vũ Hoàng Chương ngồi tựa lưng vào vách, gầy gò và mệt mỏi.
Trên khuôn mặt xanh xao là một cặp kiếng trắng dày cộm. Trước mặt ông là một tờ báo và một chiếc kính lúp, mỗi khi đọc, ông phải soi từng dòng.
Ngồi trên chiếc ghế kê sát cửa ra vào là bà Thục Oanh, vợ của ông, một người đàn bà với vẻ bên ngoài rất bình thường, nhưng lại có đời sống rất phi thường.
Bởi lẽ, bà còn là chị ruột của thi sĩ Đinh Hùng. Suốt đời người đàn bà này là chỗ dựa của hai nhà thơ lớn mà ngoài tánh khí thất thường ra, cả hai còn là những con nghiện á phiện rất nặng từ khi còn rất trẻ, nhưng chẳng bao giờ làm ra được nhiều tiền.
Vì thế, mà bà Thục Oanh âm thầm chịu đựng cảnh túng thiếu, cắn răng lo cho hai nhà thơ lớn của Việt Nam mà chẳng hề ta thán.
Thấy tôi xuất hiện, bà Thục Oanh đứng dậy chào khách và hỏi tôi muốn tìm ai?
Tôi nói ngay: “Ông Chu Tử nhờ em đem biếu cho thầy ít quà”.
Tôi trở nên hụt hẫng khi nghe Vũ Hoàng Chương nói, cho dù giọng ông chậm rãi và nhỏ nhẹ: “Chu Tử là ai?
Hình như tôi không quen người này, nhưng tại sao lại biếu quà cho tôi, mà quà gì thế?”. Khi nghe tôi nói tới thuốc phiện, nét mặt ông rạng rỡ hẳn lên.
Tôi ngồi xuống mép đi văng, đặt hai lạng thuốc phiện lên tờ báo cũ mà ông đang đọc dở.
Như bị ma lực của nó thu hút, ông cầm lên, mở ra, vẻ thích thú của một tay sành điệu: “Thuốc Thượng Lào, sản phẩm hảo hạng đây”.
Thế là câu chuyện giữa tôi và thi sĩ Vũ Hoàng Chương trở nên thân mật hơn.
Ông nói, mỗi ngày ông vẫn có thú vui đọc báo, nhưng chỉ đọc được một tờ, bởi không có đủ báo.
Tôi hứa, mỗi ngày sẽ mang đến cho ông đủ các loại nhật báo phát hành trong ngày.
Để cho ông yên lòng, tôi nói, mỗi ngày tôi thường đi ngang qua đây, nên rất thuận đường.
Nói thế là vì tôi mong được kết thân với ông, chứ chẳng có viếc gì phải cần đến khu vực này cả.
Ông nhận lời một cách vui vẻ, và từ đó, chiều nào tôi cũng mang báo đến cho ông, rồi ngồi chuyện trò với nhau đủ mọi thứ chuyện trên đời, rồi thành thân thiết.
Vài tuần sau, một lần Vũ Hoàng Chương bất chợt nhắc đến sức khỏe nhà văn Chu Tử.
Nhân đó, tôi hỏi, dường như ông và Chu Tử cũng quen nhau, nhưng giữa hai người có điều gì đó lấn cấn?
Ông thú thật là có quen biết.
Nhưng do mâu thuẫn gì đó với Chu Tử, nên thôi. Còn như Chu Tử có xúc phạm Vũ Hoàng Chương hay không, cũng chẳng ai biết hư thực ra sao, bởi đó cũng chỉ là thị phi của người đời.
Có những buổi chiều khi tôi đến thì bà Thục Oanh vắng nhà.
Tôi tự pha trà và ngồi đối ẩm với thi sĩ Vũ Hoàng Chương.
Tôi hỏi ông về chuyện tình yêu và những bài thơ đau tình bất hủ của ông.
Nét mặt ông trở nên buồn vời vợi, nói như nói với chính mình: “Năm tôi 25 tuổi thì Tố Uyển đi lấy chồng, tôi đã như điên, như cuồng. Người ta biết nhiều đến chuyện tình ly cách và những bài thơ tôi làm cho Tố Uyển giai đoạn này, đặc biệt là hai câu mà nhiều người thuộc:
Tình ta, ta tiếc cùng ta khóc -
Tố của Hoàng, nay Tố của ai…
Ông nói tiếp: Thật ra còn có một người phụ nữ nữa, cũng làm cho tim tôi và thơ tôi rỉ máu, nhưng ít được người ta nhắc tới hơn:

Kiều Thu hề! Tố em ơi
Ta đang lữa đốt tơi bời mái tây…
Tôi hỏi: “Thế còn cô Thục Oanh?”.
Ông nói: “Đó là một người bạn đời, người chia ngọt sẻ bùi, tuy không phải là người tình nhưng còn hơn cả người tình”.
Thi sĩ Vũ Hoàng Chương thường nói với tôi là ông không có bạn. Nhưng theo tôi nhìn thấy thì ông sống rất tình nghĩa.
Có lần ông hỏi tôi có thường gặp Ngọc Thứ Lang không?
Tôi nói rất thường gặp. Sáng nào cũng thấy anh ngồi ở quá cà phê trước tòa soạn báo Sóng Thần.
Dạo này trông anh rất yếu và hay đau ốm. Thế là chẳng nói, chẳng rằng, ông lấy trên đầu nằm ra một cục thuốc phiện, cắt làm đôi, gói cẩn thận bằng một mảnh giấy kiếng màu cam, rồi trao cho tôi, dặn dò: “Đưa cho Ngọc Thứ Lang và đừng nói gì cả”.

Một buổi chiều khác, tôi gặp Lê Cung Bắc (nay là đạo diễn - NSƯT Lê Cung Bắc) tại tòa soạn, và rủ anh ghé Vũ Hoàng Chương chơi.
Lê Cung Bắc nhận lời ngay, bởi anh cũng là người yêu thơ và rất ái mộ thơ Vũ Hoàng Chương. Đó là một buổi gặp gỡ hết sức thú vị.
Trước khi theo tây học, Vũ Hoàng Chương từng học chữ Nho nhiều năm, thuộc loại uyên bác.
Còn Lê Cung Bắc lại xuất thân trong một gia đình khoa bảng, mấy đời ông cha liên tục đỗ đầu các đại khoa dưới triều Nguyễn.
Do đó, anh cũng rất tinh thông Tứ Thư, Ngũ Kinh,… từ hồi còn rất trẻ. Đặc biệt, Lê Cung Bắc thuộc làu rất nhiều bài Đường thi, và cả những bài từ, bài phú.
Thế là một già, một trẻ, hết đọc rồi bình thơ Lý Bạch, Đỗ Phủ, đến Bạch Cư Dị, Thôi Hiệu… say sưa cho đến sẩm tối. 

Vũ Hoàng Chương nói, ông tuy đã già nhưng tâm hồn còn rất trẻ, nên rất thích chuyện trò với những người bạn trẻ có được kiến thức như Bắc.
Ông dặn tôi, thỉnh thoảng nhớ rủ Lê Cung Bắc đến thăm ông, để chuyện trò cho đỡ buồn.
Khi chia tay, ông rời đi văng bước ra cửa tiễn chúng tôi bằng những bước đi không vững, để bày tỏ lòng mến khách.
Ông nói: “Lâu lắm không bước ra đường, chẳng biết phố xá dạo này ra sao?”.
Lê Cung Bắc trả lời: “Phố xá thì vẫn thế. Lập tức thi sĩ Vũ Hoàng Chương ứng khẩu, đọc liền hai câu:

Thế mà cứ chúc muôn năm mãi
Nó sống lâu thì nước chết non.
Ra đầu đường, Lê Cung Bắc nói với tôi, quả thật, nếu cứ nhìn vào cái thân xác gầy còm, yếu ớt đó, không ai ngờ tiềm ẩn trong tim là ngữ khí ngất trời.
Điều làm tôi cảm động nhất, là vào một buổi chiều cuối năm 1974, khi tôi đến với ông như thường lệ đã thấy trước mặt ông là một tập sách mỏng.
Ông cầm lên đưa cho tôi và nói: “Đây là quà của tôi biếu anh, một trong những người rất hiếm hoi mà tôi quý mến”.
Tôi lật ra, cứ tưởng như mơ. Đó là một tập thơ của Vũ Hoàng Chương, do chính ông viết bằng đầu tăm, chấm mực tàu viết lên giấy bổi.
Tập thơ có cái tựa là Song Kiều, ngoài bìa Vũ Hoàng Chương viết tặng đích danh tôi, có chữ ký và triện son hẳn hoi, nhưng chỉ dày hơn 20 trang, mỗi trang có 4 câu lục bát, vì nét chữ rất to.
Dĩ nhiên là tôi vô cùng sung sướng.

 Cái công mỗi ngày tôi vẫn mang báo đến tặng ông rõ ràng không bỏ.
Đầu năm 1975, khi chuyển nhà đi nơi khác, vì không ổn định chỗ ở, tôi đã mang tập thơ quý giá, với chỉ một ấn bản duy nhất đó, cùng một ít tư liệu riêng, gởi gắm cho nhà thơ Huy Tưởng trên đường Huỳnh Tịnh Của.
Về sau tôi hỏi, thì Huy Tưởng nói đã nhiều lần cố lục tìm trong đống sách vở và đồ đạc lỉnh kỉnh trong nhà anh, nhưng chẳng biết thất lạc ở đâu. Thế là mất!
Một thời gian sau, thi sĩ Vũ Hoàng Chương rời khỏi “gác mây”, dọn về Vĩnh Hội.
Từ đó, cho đến lúc ông qua đời vào năm 1976, vì bộn bề công việc, tôi không đến với ông được nữa.
Ngay cả khi ông nhắm mắt, tôi lại ở thật xa thành phố, nên cũng không thể đến thắp cho ông một nén nhang như lòng tôi mong ước.
Tôi nghĩ, cho dù quá nhiều thăng trầm ở đời này, hạnh phúc thì ít, khổ đau thì nhiều, nhưng có lẽ thi sĩ Vũ Hoàng Chương cũng đã mỉm cười ra đi bởi ông đã thấm đẫm tinh thần Phật giáo như lời thơ ông:

Biển khổ mênh mông sóng ngập trời
Khách trần chèo một mái thuyền chơi
Thuyền ai ngược sóng, ai xuôi sóng
Cũng chỉ trong cùng biển khổ thôi.

                                       Đoàn Thạch Hãn


Thơ Mai Thảo


Có lúc

Có lúc nghĩ điều này điều nọ
Cảm thấy hồn như một biển đầy
Có khi đếch nghĩ điều chi hết
Hệt kẻ ngu đần cũng rất hay


Nghe đất

Nằm đây dưới bóng cây xanh
Nhìn qua lá biếc lại xanh sắc trời
Mát thơm đất trải bên người
Nghe trong ẩm lạnh da người cũng thơm
Đất lên hương, thấm qua hồn
Nghe Vui thoáng đến với Buồn thoảng đi
Giữa giờ trưa nắng uy nghi
Bóng vây vây nhẹ hàng mi cúi đầu
Người nằm nghe đất bao lâu


Tai nương ngợ tiếng đời sau thở dài
Lung linh sóng nắng đan cài
Cõi Trong điệp điệp Cõi Ngoài mang mang
Chợt đâu rụng tiếng phai tàn
Rơi ngưng nửa ráng nắng vàng trôi qua
Linh hồn thiếp giữa triều hoa
Bóng hình thôi đã nhạt nhòa quanh thân


Dỗ bệnh

Mỗi lần cơ thể gây thành chuyện
Ta lại cùng cơ thể chuyện trò
Dỗ nó chớ gây thành chuyện lớn
Nó nghĩ sao rồi nó lại cho
Bệnh ở trong người thành bệnh bạn
Bệnh ở lâu dài thành bệnh thân
Gối tay lên bệnh nằm thanh thản
Thành một đôi ta rất đá vànghủy tận

Em đi vừa khuất trên đầu phố
Anh đuổi theo sau bóng đã nhoà
Đứng sững. Mới hay lìa cách đã
Sơn cùng thủy tận giữa đôi ta


Không hiểu

 
Thế giới có triệu điều không hiểu
Càng hiểu không ra lúc cuối đời
Chẳng sao khi đã nằm trong đất
Đọc ở sao trời sẽ hiểu thôi

(trích trong tập 

Ta thấy hình ta những miếu đền , Văn khoa, 1989)

Niềm tin


Cuối căn phòng tiếp tân của Viện Vật lý Trị liệu và Phục hồi Chức năng, có một tấm bảng đồng gắn chặt trên tường. 
Suốt mấy tháng trời vào viện để điều trị, tôi đã ra vào căn phòng ấy không biết bao nhiêu lần.
Thế nhưng, tôi chưa bao giờ đi về phía tường bên kia để đọc những gì viết trên tấm bảng đồng ấy. 
Rồi tình cờ một buổi chiều nọ, tôi đã đọc nó. Tôi đọc rồi đọc lại lần nữa. 
Sau khi đọc xong lần hai, tôi gần như bật khóc - không phải vì buồn, mà bởi một cảm giác ấm áp khiến tôi xúc động đến mức phải bấu chặt tay vào chiếc xe lăn của mình.
Tôi muốn chia sẻ với các bạn những dòng chữ ấy:
"Điểm tựa cho những ai đang đau khổ
Tôi xin Thượng đế ban cho tôi sức mạnh để có thể đạt được những điều tôi mong muốn.
Nhưng Người chỉ ban cho tôi sự yếu ớt, để tôi học cách sống khiêm cung.
Tôi cầu xin sức khỏe để có thể làm nên những điều vĩ đại.
 Nhưng Người chỉ ban cho tôi ốm yếu để tôi có thể làm những điều tốt hơn.
Tôi cầu xin sự giàu có để cảm thấy mình luôn hạnh phúc.
 Nhưng Người chỉ ban cho tôi nghèo khổ để tôi có nhiều hiểu biết.
Tôi xin Người quyền lực để được người đời ca tụng.
 Nhưng Người chỉ ban cho tôi yếu đuối để tôi luôn cần có niềm tin.
Người đã cho tôi cuộc sống để tôi tận hưởng tất cả mọi điều.
 Tôi chẳng có được những gì tôi đang khẩn cầu - nhưng lại được mọi thứ mà trước kia tôi từng ao ước.
Ngoại trừ bản thân tôi, mọi nguyện cầu thầm kín của tôi đều được Người đáp trả. Và tôi, giữa mọi người, cảm thấy được ưu ái biết bao nhiêu!".

 Roy Campanella
(Haley dịch)

Thứ Sáu, 10 tháng 1, 2014

Nghe saxo Trần Mạnh Tuấn




Ngày Tết nói lái cho vui



Nhà văn Nhật Tiến bảo học tiếng Nhật là tiện nhất .
Luật sư Ðức Tiến không biết tiếng Ðức nên tức điếng .

- Con cá rô cố ra khỏi rá cô !
Chú chó mực chực mó vào chõ mứt .

- « Vợ nuôi chó , chồng chén cầy ;

 tứ đốm tam khoanh , cây còn hoá ra là nhà Tuất .
« Ngưòi bảo heo , kẻ kêu lợn ; ba bầy bảy mối , lớn lại thành đích thị họ Trư .
- Thầy giáo tháo giầy , vấy đất vất đấỵ
Thầy tu thù Tây , cầu đạo cạo đầu .

- Trai Thủ Đức năm canh thức đủ ,
Gái Đồng Tranh sáu khắc đành trông .

Con sáo sậu chê cô xấu xạo ,
Con chó què chân bị cái quần che .

- Con bé mập ú nhờ bà mụ ấp ,
Thằng bé ốm tong vác cái ống tôm .

- Chiều chiều cụ Mão lên rừng cạo mũ ,
Sáng sớm bà Hạc đi bán bạc hà .

- Cô nàng dâu Hứa đi mua dưa hấu ,
Thằng rể bảnh trai ngồi cạnh bãi tranh .

- Người mặc áo xanh chính là anh xáo

 ( anh Sáu ) ,
Miếng thịt băm nát trong bụng bác Năm .

- Chàng trai sứt môi ngồi ăn xôi mứt ,
Cô gái mồm to lặn lội mò tôm .

- Con cóc cái ngồi trên cái cốc ,
Con cầy tơ đứng dưới cờ Tây .

Ghe chài chìm giữa Biển Đông ,
Ván phên trôi hết cái cong nó còn’

 là cái gì ? ( là con còng )
Con sáo sậu chê cô xấu xạo ,
Con chó què chân bị cái quần che .

- Con bé mập ú nhờ bà mụ ấp ,
Thằng bé ốm tong vác cái ống tôm .

Chiều chiều cụ Mão lên rừng cạo mũ ,
Sáng sớm bà Hạc đi bán bạc hà .

- Cô nàng dâu Hứa đi mua dưa hấu ,
Thằng rể bảnh trai ngồi cạnh bãi tranh .

- Người mặc áo xanh chính là anh xáo

 ( anh Sáu ) ,
Miếng thịt băm nát trong bụng bác Năm .

- Chàng trai sứt môi ngồi ăn xôi mứt ,
Cô gái mồm to lặn lội mò tôm .

- Con cóc cái ngồi trên cái cốc ,
Con cầy tơ đứng dưới cờ Tây .


St -

Bức tranh Bách mã


Qua muôn dặm tới miền xa lạ
Mây khói còn vương dấu vó câụ
Một khởi phóng hỡi linh Bách Mã,
Từ ngàn xưa vượt tới ngàn saụ
HNL

Lên hết 144 bậc thềm, Quân mới nhìn rõ toàn cảnh tòa lâu đài, kiến trúc theo lối cổ với năm vòm tháp.
Khá đông du khách hiếu kỳ đến thành phố Hoa Hồng này đã mua vé vào cửa Lâu Đài X. để tận mắt chứng kiến khung cảnh sống của một gia đình từng nổi danh tại địa phương hồi trên nửa thế kỷ về trước.
Từng tốp khoảng vài chục người được hướng dẫn viên đưa đi coi từ dưới lên lầu chót của tòa lâu đài rồi theo mũi tên chỉ lối xuống và ra chỗ đậu xẹ
Quân đã chứng kiến những căn phòng bầy biện theo cung cách ngày xưa, cũng không có gì đặc biệt lắm so với những tòa nhà cổ kính bên châu Âu mà Quân đã biết.
Duy khi thoạt bước vào căn phòng chót, Quân rất ngạc nhiên khi thấy trên tường có treo Bức Tranh Bách Mã quen thuộc, tuy rằng bức tranh ở đây không có thêm vài hàng đề tặng...
Chỉ ít phút đừng chân trong phòng tranh, Quân đã hồi tưởng đầy đủ câu chuyện ngày xưạ..
Quân mua bức tranh này trong một kiosque bán đồ sơn mài trên đường Nguyễn Huệ Sài Gòn. Bức tranh được cuộn tròn trong chiếc ống sơn màu nâu nhạt.
Khi về nhà trải bức tranh để lồng kính, Quân mới nhìn kỹ bức tranh thì thấy có hai dòng chữ ghi bằng bút bi phía dưới, bên góc trái:
Kính mừng sinh nhựt
anh Hà Đản.26-XII
và chữ ký tên rất dễ đọc:

 Bạch Lan

Thì ra đây là bức tranh đã được mua đi bán lạị Trước khi treo bức tranh lên tường, Quân đã tò mò đếm đủ 100 đầu ngựa, trải treo chiều ngang 60 X 100 cm đúng như tên của bức tranh bằng chữ Hán: "Bách Mã Tề Phi" cùng với triện son và ký hiệu của một họa sĩ Đài Bắc (Trung Hoa Dân Quốc).
Thực ra, Quân chỉ muốn mua 1 bức tranh ngựa, dù là vẽ 1 con. Không phải Quân tin điều mà người Trung Hoa thường viết trên những thiệp hồng: "Mã Đáo Thành Công" để chúc nhau, mà chỉ vì Quân tuổi Ngọ.
Sau khi bức tranh được treo lên, anh đứng ngắm coi và khi toan quay bước, thốt nhiên anh thoáng thấy có điều gì khác thường. Anh lui trở lại vị trí cũ, mắt vẫn không rời bức tranh.
Rõ ràng, anh nhận ra là những mông ngựa đều xoay theo tầm nhìn của mình.

 Anh thử đưa bước chân qua trái, rồi qua phải, vẫn chiếc mông ngựa di chuyển qua lạị Anh rất thích thú điều này, nên mỗi lần trước khi đi làm hay vừa về nhà, anh đều đứng trước bức tranh rồi di chuyển qua hai bên để nhìn những mông ngựa xoay theo tàm mắt.Bé Mai, con gái Út 5 tuổi của anh, hỏi:
- Ba nhìn bức tranh hoài, không chán saỏ
Anh tươi cười:
- Nè, con lại đây ba biểu!
Con bé đến gần anh.
- Con thấy con ngựa lớn nhứt không?
- Thấy, thưa Ba!
- Bây giờ mắt con nhìn mông nó, còn chân con bước qua tráị Con có thấy mông ngựa xoay theo bước chân của con không?
- Thấỵ sao ngộ quá, Ba!
Quân vui vẻ:
- Cho nên Ba cứ nhìn bức tranh hoài!
Thế rồi nhiều lần Quân thấy con nhỏ cũng đứng nhìn bức tranh, xê qua xê lại y hệt ... ông già nó!
Cho đến một buổi chiều, anh còn làm việc, thì bé Mai kêu điện thoại đến Sở:
- Thưa Ba, có một cô vừa ghé nhà mình. Cổ ngỏ ý muốn chờ gặp Ba để có chuyện muốn thưa với Bạ Má biểu con mời khách dùng trà rồi báo tin cho Ba haỵ
- Con nói lại với cô, là rất tiếc chiều nay Ba đã có hẹn nên sẽ về muộn. Vậy mời cô ấy tới vào trưa chủ nhật nàỵ..
Nhưng cô khách không y hẹn, mà Quân cũng sẽ quên chuyện đó, nếu khá lâu sau đó anh không nhận được bức thư có đóng nhật ấn bưu điện Nha Trang:
Ngàỵ..
Kính ông,

Tôi là Hà Mỹ Lệ, người mà mấy tháng trước đây đã đến thăm ông, nhưng rất tiếc chưa được hân hạnh gặp ông, sau đó lại lỗi hẹn vì ngày chủ nhật kế tiếp, tôi có việc gia đình phải về Nha Trang. Bữa nay xin gửi thư này với lời kính thăm của tôi, mong ông không cho là đường đột. Vậy xin kể hầu ông, nguyên do nào thúc đẩy tôi tìm ông. Bữa tôi đến và được bà nhà và cô em niềm nở tiếp đón, đã là lần thứ haị
Lần đầu, nhân có việc đi qua ngõ trường học, tôi thoáng thấy bên trong một căn nhà có treo bức tranh quen thuộc.. Đây cũng là tôi có duyên với con đường nhỏ lát đá chạy qua nhà ông. 

 Căn nhà của gia đình ông có bức tường thấp mà chân tương cũng là lề đường đị Khách đi qua có thể dễ dàng nhìn thấy bức tranh treo cạnh chiếc đồng hồ quả lắc có những chữ số La Mã.
Cách đây mấy năm, trên tường trong phòng khách nhà tôi cũng đã treo một bức tranh y hệt bức tranh mà tôi đã trông thấy tại nhà ông. Y hệt, vì khi dừng chân lại để nhìn vào, tôi còn nhận ra, tuy không rõ lắm, mấy dòng chữ đề tặng nữa. 

Đó là nguyên do mà tôi đã có mặt trong nhà ông để nhìn rõ mấy dòng chữ ấy.
Thưa Ông, xin ông rộng lượng thứ lỗi vì cần phải trình bầy chi tiết để ông cảm thông cho.
Theo ý nghĩ chủ quan của tôi thì ...

 Bức Tranh Bách Mã được treo trong nhà ông cũng chính là bức tranh của Ba tôi đã thất lạc từ nhiều năm nay sau một vụ trộm mà nhiều người ở Khánh Hòa đều nghe nói.
Câu chuyện là vào một đêm mà gia đình chúng tôi vắng mặt, kẻ trộm đã khuân đi tát cả những đồ vật đắt tiền, kể cả bức tranh treo trên tường vốn không đáng giá bao nhiêu. Nhưng đó lại là kỷ vật mà sinh thời Ba tôi rất trân trọng.
Chúng tôi đã nhận được một vài món đồ sau đó được đem bầy bán tại Chợ Trời gần ga xe lửa. Nhưng không thấy bức tranh để mua lại. Cho nên khi nhận ra bức tranh đang được treo tại nhà ông, tôi nghĩ ngay là kẻ gian đã mang vô bán tại Sài Gòn và ông đã mua được.
Tôi biết là bức tranh hiện đang thuộc quyền sở hữu của ông. Việc tôi ngỏ ý có thể thành công mà cũng có thể thất bại.
Thành công, nếu được ông hào phóng và cảm thông, ban ơn cho tôi được nhận bức tranh này, để tôi giữ được di vật của Cha mình.
Thất bại, nếu bức tranh đối với ông cũng quan trọng vì một lý do nào đó, ông sẽ từ chối đề nghị của tôi.
Dù thành công hay thất bại, tôi cũng tư an ủi là đẵ làm hết sức mình.
Tôi nóng lòng chờ mong hồi âm của ông.
Xin tạ ơn ông.
Trân trọng kính chúc ông và bửu quyến vạn an.
Kính thư,
Hà Mỹ Lệ
Hộp thu lưu trữ Ty Bưu Điện NhaTrang.

Thưa cô Mỹ Lệ,
Nếu bức tranh quả thực quan trọng đối với cô như đã viết trong thư, tôi rất sẵn sàng tặng lại cô.
Khi có dịp trở lại Sài Gòn, xin mời cô ghé tệ xá để nhận bức tranh. Tôi sẽ nhớ dặn trước người nhà điều này. Mong cô đừng câu nệ.
Kính chúc vạn an.

Phạm Quân.

Ngày....
Kính Ông,
Đầu tiên, tôi vô cùng cảm tạ ông, đã cho tôi nhận Bức Tranh Bách Mã do tấm lồng hào hiệp của ông. Bức Tranh sẽ được treo cạnh bàn thờ Ba tôi.
Sau, để đáp lại thạnh tình của ông, tôi có ít dòng tâm sự muốn kể hầu ông.
Bức Tranh Bách Mã là một kỷ niệm mà Ba tôi đã nhận tư tay Dì Bạch Lan.
Theo thương tình, đứa con gái mất Mẹ ít khi trân trọng tình yêu của người Cha với một phụ nữ khác.
Nhưng có lẽ tôi là kẻ hơi khác đời! Mẹ tôi mất khi tôi đủ trí khôn để nhận ra niềm đau tột cùng của Ba tôi.
Ông héo hon đi sau tang lễ. Nhiều khi đang ngồi nói chuyện với tôi, bỗng ông nức lên, nghẹn ngào:
- Sao mình lại bỏ anh và con?
Tôi không biết làm gì để an ủi ông, mà chính ông lại an ủi tôi:
- Mỹ Lệ à! Ba xin lỗi vì đã không giữ được Mẹ cho con! Bây giờ Ba có thương con gấp bội cũng không thể nào thay được tình mãu tử.
Tôi ôm chặt Ba và tự nhủ sẽ làm tất cả những gì để ông được vui.
Ba tôi mới 50 tuổi.
Còn trẻ lắm., Ông không thể "gà trống nuôi con" mãi được. Nhưng Ba yêu Mẹ như vậy thì người phụ nữ nào thay được Mẹ để Ông lại có được hạnh phúc? Ba tôi có hạnh phúc là tôi có hạnh phúc.
Tôi phải tìm cho Ba tôi một phụ nữ thích hợp, hy vọng Ông chấp nhận. Nhưng đứa con gái khờ khạo như tôi làm sao tìm ra được người phụ nữ như thế?
Ngày đêm tôi cầu nguyện cho Ba. Và thành tâm của tôi đã được các đấng Thiêng Liêng ban ơn.
Đó là Dì Bạch Lan, mà tôi thường kêu là Dì Hai, người bạn chí thiết của Mẹ tôi.

 Trong tang lễ Mẹ tôi, dì Bạch Lan đã tất bật hơn cả những người thân trong gia đình.
Một ngày kia, tôi đến thăm Dì tại nhà riêng.
- Mỹ Lệ! Thật bất ngờ được cháu đến thăm. Ba cháu khỏe không? Vui không?
Tôi vui vẻ:
- Cảm ơn dì Hai, ba cháu khỏe, nhưng không vui!
- Hẳn nhiên. Ba cháu còn luôn tưởng nhớ Mẹ cháu.
Rồi Dì kéo tôi ngồi kề bên, dịu dàng:
- Thời buổi này thiệt khó mà kiếm ra một người đờn ông có tình nghĩa với bà vợ đã mất như ba cháu.
Tôi nắm chặt tay Dì:

 - Cháu có điều này muốn nói với dì Hai. Nhưng..
Dì khuyến khích tôi:
- Cứ nói, cháu đừng ngại. Dì rất vui nếu giúp được chuyện gì cho cháu.
Tôi mạnh dạn:
- Thưa dì Hai, cháu e ngại vì câu chuyện sẽ... thiệt thòi cho Dì, nếu lời cầu mong của cháu được Dì chấp nhận...
- Dì không ngại bị thiệt thòi. Hãy coi dì như người thân trong gia đình cháu.
- Dì Hai ơi! Hiện nay Ba cháu sống như một thân cây cằn cỗi vì lẽ sống của Ông là Mẹ cháu đã không còn nữa. Cháu dù yêu Ba vô cùng, sẽ không thể nào thay thế Mẹ được.
Cháu nghĩ rằng, vì hạnh phúc cuối đời của Ba cháu, cũng chính là hạnh phúc của cháu, phải tìm cách thế nào cho Ba cháu tiếp tục được một bàn tay chăm sóc, an ủi. Ba cháu còn trẻ, đâu thể vì quá yêu Mẹ cháu mà héo hon đi, rồi sẽ có một ngày suy sụp. 

Vì Ba, cháu phải làm tất cả những gì có thể làm được để Ông có hạnh phúc. Cháu nghĩ ngay đến Dì Hai. Dì là người thích hợp với Ông nhứt.
 Nhưng Dì chưa từng lập gia đình, như vậy sẽ thiệt thòi cho Dì.
Đó là chưa nói đến chuyện cháu không hiểu tình cảm của Dì dành cho Ba cháu ra sao. Cháu đã cầu nguyện nhiều, đã khẩn xin các Đấng Thiêng Liêng phò hộ Ba cháu.

 Hôm nay cháu cầu cứu Dì Hai.
Tôi nghe rõ tiếng Dì thở dài. Dì ôm tôi vào lòng, để tay trên đầu tôi:
- Cháu Mỹ Lệ mến thương của dì. Thế này nhé! Dì sẽ dành nhiều thời gian đến thăm Ba cháu.
Dì sẽ dò ý coi phản ứng của Ba cháu. Nếu Ba cháu vui vẻ và coi dì như thân hữu, dì cũng sẽ hỏi lòng mình, coi tình cảm mà dì dành cho Ba cháu đến mức độ nào.

 Nếu dí có thể an ủi được Ba cháu,thì đừng nói đến chuyện thiệt hơn. Dì rất kính trọng Ba cháu và hâm mộ tình nghĩa vợ chồng thủy chung mà Ôâng đã dành cho Mẹ cháu..
Tôi nghẹn ngào ôm chặt Dì:
- Cháu đội ơn Dì! Cháu đội ơn Dì!
Một buổi chiều, sau khi tan sở, Ba tôi đang ngồi coi báo trong phòng khách thì Dì Bạch Lan ghé thăm.
- Thưa anh, hồi nãy trên đường về, bỗng nhiên tôi sực nhớ ngày mai là sanh nhựt của anh. Tôi vô hiệu sách trên đường Độc lập định mua một tấm thiệp để gửi mừng sanh nhựt anh.

 Nhưng thấy trên tường hiệu sách có treo bức tranh phù hợp với năm sanh của anh.
Tôi nghĩ là nên đem tới để xin anh vui lường nhận Bức Tranh Bách Mã này, như chút lòng thành của tôi, chúc anh sức khỏe và thành công.

 Ba tôi vui vẻ nhận món quà rất có ý nghĩa đối với Ông, ngỏ lời cảm ơn Dì Bạch Lan.
Tôi được chứng kiến khung cảnh đó và nhanh miệng mời Dì ở lại ăn với cha con tôi một bữa cơm.
Bức tranh được treo trên tường.
Tôi đọc và nhớ mãi mấy lời đề tặng:
"Kính chúc Anh Hà Mỹ
Sanh nhựt 26 - XII vui vẻ"
(cùng với chữ ký rất dễ đọc:)
Bạch Lan.
Sau đó, Dì Hai thường ghé thăm Ba con tôi. Theo tôi nhận xét thì Ba tôi cũng có nhiều cảm tình với Dì. Tôi tiếp tục theo đuổi nguyện vọng của mình, vun đắp tình cảm giữa hai người.
Tôi thiết tha cầu mong Dì sẽ là người thay thế Mẹ để đem lại hạnh phúc cho Ba tôi trong quãng đời còn lại.
Nhưng thưa ông, người tính không bằng trời tính. Sau một cơn đau tim, Ba tôi dột ngột ra đi theo Mẹ tôi.
Tôi đã khóc ngất trong vòng tay dì Bạch Lan. Từ đó, Dì toàn mặc đồ đen khi ra ngoài, kể cả khi đi làm. Dì thường đến thắp hương trước di ảnh Ba Mẹ tôi và luôn an ủi đứa con mồ côi này.
Bất hạnh còn đến với tôi, như đã thưa trên đây, Bức Tranh Bách Mã đã bị kẻ gian đem đi mất.
Thưa ông,
Một lần nữa, xin ông vui lòng nhận lòng biết ơn sâu sa của tôi khi đã cho tôi nhận lại bức tranh. Từ nay, tôi có được đầy đủ các hình ảnh kỷ niệm về Ba Mẹ tôi, về dì Bạch Lan, người mà lẽ ra đã là kế mẫu của tôi. Đôi lúc tôi còn tự nghĩ rằng nếu dì đã cúng cha tôi chung sống, biết đâu cha tôi đã không gục ngã.
Kính chúc ông và bửu quyến an khang, vạn phước.
Hà Mỹ Lệ

Nếu không phải đi theo đoàn du khách, Quân còn đứng lại để nhìn bức tranh mà dù bước qua trái hay phải, vẫn thấy mông những con ngựa xoay theo tầm nhìn của mình.
Trước khi lái xe trở lại thành phố, Quân còn quay lại ngắm tòa lâu đài nổi bật trên nền trời xanh với một giải mây vàng, nhộm ánh nắng tà ngời sáng long lanh, hắt xuống ngọn tháp chính giữa.
Thế giới này thiệt là gần, trong tòa lâu đài tại một thành phố ở Bắc Mỹ, lại có họa phẩm có xuất xứ từ bán đảo Đài Loan: Bức Tranh Bách Mã.
Quân đã từng có một ấn bản như thế tại nhà mình, với câu chuyện một cô gái muốn Cha mình có hạnh phúc sau khi Mẹ cô không còn nữa.
Vì như cô đã tâm sự với tôi: hạnh phúc của Ông cũng chính là hạnh phúc của Cô.

Hoàng Ngọc Liên