Thứ Hai, 7 tháng 10, 2013
Tiếng chim ( end )
Từ đó ông già như con chim bị nhốt trong chiếc lồng xi măng trên lầu năm, ông hết đường cựa quậy.
Anh con trai tin cụ sẽ quen và sẽ mê cuộc sống thị thành.
Song theo chỗ tôi nhận xét thấy cụ ngày càng sầu thảm. Có nhiều khi ông già lần xuống tầng dưới than vảng với tôi. Cụ nói chán ăn cơm tháng, thèm mắm ba khía, cá đồng, thịt chuột.
Ông than phiền thức ăn nấu theo kiểu thành phố mặn không ra mặn, nhạt không ra nhạt, rất khó nuốt.
Ông than phiền gió từ chiếc quạt máy khó chịu, đường trắng quá, ăn không ngon. Gạo nhạt quá, đèn sáng quá.
Ông đúng là một lão nông Nam bộ. Tuy anh con có may cho cha mấy bộ quần áo sang trọng song không thấy ông dùng.
Cái cốt cách nông dân nơi ông không giấu vào đâu được. Mấy ngón chân ông lão to bè, loại bàn chân đặc biệt của người chuyên đi chân trần, trên đất, gánh nặng. Ông chỉ còn lại vài chiếc răng cửa rất to.
Miệng luôn luôn ngậm điếu thuốc rê to tướng ướt và tắt tự lúc nào.Tôi thắc mắc về việc những người con tại sao không để ông sống chung với họ. Một ông lão tám mươi làm sao sống một mình.
Nhưng tôi không dám đặt câu hỏi này với họ, nghe đâu người con là một cán bộ cao cấp. Hàng ngày họ cho đầy tớ mang cơm đến.
Tội nghiệp ông lão rất thương các cháu, chẳng mấy khi chúng đến thăm.
Mấy đứa cháu con nhà giàu, sang trọng ăn mặc theo kiểu tây đầm chỉ dám đứng bên ngoài nhìn vào phòng xem ông chúng nó với cặp mắt tò mò như đến sở thú xem con gấu nằm trong hang tối.
Nghe chuyện đến đây tôi đã phần nào tưởng tượng được tình cảnh ông lão trong những ngày cuối đời bị tách hẳn ra cái thế giới quen thuộc đầy màu xanh đồng nội của mình để bị giam hãm trong căn phòng nhỏ giống như giữa khu rừng bạt ngàn xi măng. Lần ấy tôi ở lại Sài gòn năm ngày.
Sáng nào tôi cũng được thức dậy với tiếng chim vui.
Sau đó tôi trở về Nha Trang, rồi bận bịu công việc nên quên mất chuyện ông già nuôi chim trồng hoa.
Thuở niên thiếu tôi cũng từng sống ở nhà quê. Đến bây giờ sau rất nhiều năm ở thành thị tôi vẫn còn nuối cái mộng vui thú điền viên thôn dã.
Tôi không thể nào quên được tiếng sơn ca từ cánh đồng cỏ xuân mơn mởn vút lên gieo một tràng tiếng óng ánh dài lóng lánh như sương mai.
Tiếng chim làm cho cánh đồng bớt trống trải. Kể từ khi lên trung học tôi phải rời thôn quê về thành phố, rồi nhiều năm đại học. Học hành xong thì đi làm, có vợ, mua nhà rồi ở luôn thành phố.
Từ ấy mất hút màu xanh đồng nội. Giờ đây mỗi khi có dịp ra khỏi thành phố, đứng trước màu xanh những thuở ruộng mạ tôi luôn luôn cảm thấy tâm hồn êm ả. Những cuộc chạy trốn cái náo nhiệt thành phố cũng chẳng thể kéo dài được lâu.
Tôi lại phải quay về hòa vào dòng xe cộ bất tận trên đường, trở về cảnh đời thường đầy đủ tiện nghi chán ngấy. Tôi mà còn thế huống gì ông già.
Tội nghiệp ông giống như cái cây bị nhổ trốc gốc từ ruộng rẫy về cắm trong chiếc lọ nhỏ.Mấy năm sau tôi gặp lại anh Thức. Thức trách tôi vì sao về Sài gòn nhiều lần chỉ đến ở khách sạn không đến sống với anh, chê thiếu tiện nghi sao?
Tôi nói, không phải, chỉ vì nhà ông cao quá lại không có thang máy. Trước leo nổi, bây giờ thì chịu, chân ngày càng yếu còn người thì càng nặng... Rồi tôi hỏi chuyện ông lão nuôi chim trồng hoa.
Tôi hỏi con sơn ca của tôi mỗi buổi mai còn hót không ?
Thức ngậm ngùi:
Tôi hỏi, vì sao? Thức kéo tôi vào hiệu nước kể tôi nghe câu chuyện cảm động và đầy sự phẩn nộ sau đây: "Năm ngoái cũng vào khoảng tháng này, trời nóng lắm. Một buổi chiều tôi thấy người con trai lớn của ông cụ xách chiếc giỏ lưới đựng nhiều đồ hộp đến thăm ông cụ.
Tòan những thứ thức ăn nước uống đắt tiền. Thời đó những loại thực phẩm cao cấp như thế này có tiền cũng chẳng mua được.
Người con có vẻ tự hào về việc mình chăm sóc cha bằng mấy thứ đồ hộp cao cấp như thế này. Anh nói dù nhà giàu cũng chẳng mua được. Anh ta ngầm bảo chỉ với vị trí quan trọng trong ngành ngoại thương như anh mới có.
Anh ta cầm lên một hộp, và dù không có sự yêu cầu anh vẫn đọc cái nhãn in rất đẹp toàn chữ nước ngoài rồi giảng giải :" Người già cần những loại thực phẩm vô cùng đặc biệt tinh khiết, đầy đủ như thế này mới có lợi cho việc tiêu hóa dinh dưỡng.
Theo anh chỉ có mấy nước có nền công nghệ tiên tiến mới có thể sản xuất được... ".
Kế đó anh ta kể với tôi về chuyến du lịch dài ngày của cả gia đình anh lên Đà Lạt.
Không chỉ tránh cái nóng Sài gòn mà anh cần chữa bệnh biếng ăn, vợ anh bệnh khó ngủ, các con bệnh dị ứng...
Nói xong anh lên tầng trên với ông già. Tôi chắc anh vào phòng cha đưa chiếc giỏ rồi đi ngay không dặn dò gì cả vì chỉ vài phút sau đã thấy anh quay xuống.
Tội nghiệp ông lão suốt ngày chờ đợi con đến chuyện trò mà con lại bỏ đi ngay. Phải chi hôm đó anh nói với tôi vài lời.
Lần trở xuống anh ta dừng lại nói chuyện lâu hơn.
Anh cho tôi biết vài tin tức thuộc loại quan trọng đặc biệt mà chỉ có hạng cán bộ cao như anh mới độc quyền biết. Anh làm như ban bố cho tôi ân huệ đặc biệt. Anh tỏ ra khoái trá về những hiểu biết này.
Ôi phải chi lúc đó người đàn ông này đừng đem chuyện thời dự viễn vông ra nói mà chỉ cần gởi gắm nhờ tôi chăm sóc cha anh thì đã chẳng xảy ra nông nỗi.
Sau này tôi cứ ân hận mãi, tôi trách anh ta ít trách mình thì nhiều. Tại sao tôi phải đợi đứa con như anh ta gởi thì mới để tâm chăm sóc ông già?
- Bây giờ ông tới nhà tôi không còn được nghe tiếng chim sáng nữa.
Mấy ngày sau cửa phòng ông lão đóng im ỉm, nhưng bên trong tiếng sơn ca vẫn hót. Hàng cây trước cửa phòng lá vẫn xanh rì màu rắn lục. Và những bông hoa cứ đỏ rực một màu máu.
Tôi ngạc nhiên không hiểu vì sao tôi chưa bao giờ thấy ông lão tưới nước bón phân cho hoa mà chúng vẫn tươi tốt? Tối đến trong phòng tối om. Tôi tưởng người già ngủ sớm.
Không thấy ông xuất hiện. Có nhiều buổi sáng trời trong, nắng vàng thực đẹp cũng chẳng thấy ông cụ ra hiên sưởi nắng.
Chúng tôi, những người hàng xóm lâu ngày hiểu cách sống âm thầm của ông nên cũng chẳng để tâm.
Vả lại là thị dân ai cũng bận, cuộc sống là thế đấy nó xô con người vào vòng quay tối mày tối mặt, chẳng còn thời gian và hơi sức đâu để ý cuộc sống người chung quanh.
Thực là một cách sống hời hợt của đám thị dân.Cho đến một hôm cả khu cư xá dậy lên nạn ruồi xanh, Ban đầu ruồi xuất hiện ít, sau nhiều dần.
Những con ruồi no tròn, mình ánh lên sắc sanh kim lọai, hai mắt đỏ choán hết cả đầu.
Chúng vo ve suốt ngày, đậu mọi nơi, để dấu phân rất bẩn lên cửa kính. Sau nạn ruồi đến mùi lạ.
Ban đầu chưa rõ mùi gì, dần dần chuyển sang hôi thối mùi chuột chết. Nơi nào cũng phảng phất cái mùi đáng tởm lợm này. Chúng tôi léo nhau đi tìm.
Có người la:- Trời ơi ! Lại đây mà coi, ruồi đậu đầy cửa nhà ông lão!Chúng tôi phá cửa xông vào.
Cả bầy chuột cống túa ra. Nhiều người hét lên, chết khiếp.
Ông nằm sóng sòai trên nền. Ông chết đã nhiều ngày. Mấy ngón tay ngón chân bị chuột gặm nham nhở cụt gần hết !
Ông lão nhà quê chết đói ngay trên một đống thực phẩm sang trọng đắt tiền.
Mấy hộp thịt, hộp cá, hộp nước trái cây xanh đỏ lăn lóc đầy nhà!
Ông già quá, quê mùa quá, quê mùa đến nỗi không biết những thứ đẹp đẽ kia là thức ăn đồ uống. Mà dù có biết thì ông cũng chẳng biết cách gì mở chúng ra ăn uống.
Đối vơi người nông dân chất phát quanh năm đồng chua nước mặn thức ăn thức uống đâu có giống mấy thứ xa lạ này?
Người ta còn kinh ngạc hơn khi phát hiện ra hàng cây cảnh người con trai và cô con dâu mua về cho ông tạo khung cảnh thôn đã điền viên cũng là thứ cây cảnh nhân tạo làm bằng chất nhựa tổng hợp.
Những hoa lá không cần chăm sóc tưới bón vẫn xanh rờn rắn lục, đỏ lòm máu.
Và trời ơi !!
Mọi người còn sửng sốt hơn nữa, khi thấy trên bàn, chiếc máy cát xét đời mới nhất chốc chốc vang lên tiếng chim sơn ca !
Quý Thể
Chủ Nhật, 6 tháng 10, 2013
Tiếng chim
Một buổi mai màu xám tro âm thầm đậu nơi cửa sổ. Tôi thức dậy sau giấc ngủ chập chờn đầy mộng mị.
Bỗng đâu có tiếng chim vang lên. Tôi lắng nghe, một lúc sau nhận ra ấy là tiếng sơn ca, quê tôi thường gọi là chim chiền chiện.
Một loài chim sắc lông nâu nhạt có sọc nâu đậm. Ấy là một phối sắc màu đất, chỉ tốt cho việc ẩn mình trốn tránh, không sặc sỡ quyến rũ gì cả.
Tiếng hót loài sơn ca lảnh lót vang vọng, tiếng chim tuy nhỏ lại vang vọng trong một vùng rộng lớn là vì nó lan tỏa từ trên cao xuống cánh đồng.
Chim sơn ca thường đẻ trứng trong những luống cày ải sau mùa gặt, và khi những luống đất đã bắt đầu đâm cỏ non cũng là lúc trứng nở, đó là mùa lũ trẻ con chúng tôi đi bắt đến, bắt chim con.
Chim sơn ca luôn luôn cất tiếng hót vào lúc bình minh và hoàng hôn.
Tôi tưởng tượng quanh đây có con sơn ca bay vút lên gieo tiếng hót trong như những hạt pha lê xuống cánh đồng lúa xanh mơn mởn.
ty phu tu choi chim canh Trở thành tỉ phú từ chơi chim cảnhTôi nằm trên giường uể oải nhìn ra cửa sổ, chỉ thấy xa xa thấp thoáng ngọn cây dầu cổ thụ cả trăm năm, rất cao trồng ở ven những con đường lớn trong thành phố đông đúc này.
Những ngọn cây cao còn chìm trong một nền trời mù mù khói xe đọng lại sau một đêm, sáng nay hóa thành thứ sương đục ngầu dơ bẩn. Không một tia nắng, không một đám mây. Tôi chợt nhớ ra chỗ tôi nằm đây là một căn phòng trên lầu bốn của một chung cư năm tầng.
Tôi ngẫm nghĩ mãi không hiểu nổi trong khung cảnh u ám của một buổi ban mai tồi tệ trong thành phố làm sao có tiếng hót của loài chim đồng nội thế này?
Giữa một thành phố nhộn nhịp ồn ào bao nhiêu xe cộ đủ loại, tiếng máy nổ đinh tai nhức óc, khói đầy trời, lúc nào nhìn lên cũng thấy mờ mịt, cả năm chẳng trông thấy được trời xanh mây trắng, người còn chịu không nổi bầu không khí ấy huống gì là loài chim sơn ca chỉ chuyên sống và ca hát trong cảnh đồng không mông quạnh, mặt trời lên xuống, bãi cỏ xanh rờn, không khí trong veo.
Con chim đồng nội nào lại lạc loài đến đây gieo tiếng hót cao vút trong veo làm mát rợi cả lòng người?
Tôi định đến trưa trong khi ngồi ăn với anh Thức chủ nhà sẽ hỏi chuyện về con sơn ca thành phố và tiếng hót trong một trời đầy bụi khói sáng hôm nay.
Trời sáng hẳn, tôi mệt nhọc ngồi dậy rửa mặt cạo râu. Buổi tiệc hồi đầu hôm toàn rượu, thịt mỡ, thuốc lá và cuộc cãi vã căng thẳng lúc gần cuối làm tôi mất ngủ. Tôi là một luật sư rất thành công, nghĩa là kiếm được tiền nhiều.
Tôi thao thức suy nghĩ mãi về vụ kiện, đến hai ba giờ sáng chưa nhắm mắt được. Tôi nhỏm dậy lấy hai viên thuốc ngủ.
Khuya như thế này rồi mà phố phường vẫn chưa lắng tiếng người tiếng xe cộ.
Tuy sống trên rất cao nhưng tiếng động thành phố vẫn cứ xô đến đây như những đợt sóng. Cả ngôi chung cư là một khối bê tông khổng lồ bị nung nóng suốt ngày giờ đây để thoát ra hơi nóng.
Bụi bặm, với mồ hôi bê bết khắp người. Chiếc quạt trần thổi một thứ không khí cũ và nóng từ trên cao xuống rồi vần vũ trong phòng, chẳng có gì tươi mát cả.
Gần sáng tôi mới chợp mắt kế đó là tiếng chim vui tươi mát rượi đánh thức.
Nhìn mặt mình trong gương thật vô cùng ngao ngán, cặp mắt đỏ và nhọc nhằn như người thiếu ngủ lâu ngày, lưỡi trắng, miệng đắng, đầu óc choáng váng như say rượu, tay chân bải hỏai. Tôi nhắm mắt lại lắng nghe, cả thân xác là một sự mệt nhọc.
Cái gì đã làm cho thân thể và tinh thần tôi suy sụp nhanh như thế này?
Mới đó mà tôi đã hóa thành người đàn ông béo phệ, nặng nề, chậm chạp, buồn bã.
Hình bóng tôi xa lạ với cả tôi. Mới hơn bốn mươi mà tôi đã phải nhuộm tóc, mang răng giả, bụng thì ngày cứ càng to ra.
Sự căng thẳng quá tải của nghề nghiệp, cọng với lối sống lúc nào cũng như chạy đua trong cái thành phố được gọi là tiện nghi này, cũng là một nơi đầy sự ô nhiễm đã dần dần lấy đi bao nhiêu tuổi thanh xuân, sức sống, cạnh tranh nghề nghiệp lấy đi sự thanh tịnh bình an trong tâm hồn.
Đổi lại, tôi nhận được nhiều thứ, một địa vị cao, giàu có, vợ đẹp con khôn...
Đây là một cuộc trao đổi sòng phẳng, thành phố cho nhiều thứ và nó cũng lấy đi nhiều thứ. Chính tôi đã chọn cuộc đổi chác này và tôi phải trả giá, dĩ nhiên..
.Trong khi tôi đứng trước gương nghĩ về cái lẽ được mất của cuộc sống thì con sơn ca vẫn hát. Tiếng hát càng nghe càng thấy vui.
Tôi tò mò muốn biết con chim hiện ở nơi đâu? Cuối cùng tôi định hướng được tiếng chim. Nó phát ra từ căn phòng phía trên chỗ tôi đang đứng.
Tôi đang ở lầu bốn vậy con chim này ai nuối ở lầu năm. Tôi ra hiên nhìn lên.
Căn phòng nhốt con chim đó đóng cửa. Vậy ra đây là chú chim siêng năng đứng hót trong chính căn phòng còn đang đóng cửa tràn ngập bóng tối.
Thật đúng là một chú sơn ca lạ lùng. Chú chẳng cần trời xanh, bình minh, trên cánh đồng cỏ xuân mơn mởn. Nó chịu khó hát trong chốn chật chội tối tăm.Trước căn phòng có nhiều chậu cây cảnh.
Người chủ trồng loại cây cảnh gì không biết thấy nở ra những bông hoa đỏ rực màu tiết gà, và cái nhụy màu vàng dài như con sâu, lá cây rất to, hình lá môn, màu rắn lục trông hoa đỏ lá xanh phát rùng mình.
Lá hoa đều đẹp song vẫn có gì bất thường, lạ đến mức khiến người nhìn sờ sợ.
Song dù sao hoa lá và tiếng chim vẫn làm cho cả khu nhà êm đềm dịu mát. Tôi nghĩ chủ nhà chắc là người rất yêu mến thiên nhiên.Nhân buổi ăn trưa tôi hỏi anh Thức về tiếng chim.
Thức nói:
- Đó là tiếng hót con sơn ca của ông lão ở lầu trên. Ông cụ sống có một mình trong căn phòng nhỏ.
Ông trồng cây và nuôi chim.
Ông già lắm, chắc cũng ngoài tám mươi, suốt ngày ông ở mãi trong phòng, rất ít khi xuất hiện bên ngoài.
Mỗi khi trời tốt mới thấy cụ ra hiên phơi nắng.Là nông dân thuần túy song ông cũng biết nhìn xa trông rộng, Ông cho con cái học hành cao đỗ đạc cao, có người làm lớn, có người làm giàu, nay con cháu ông quen với tiện nghi ở thành phố rồi, chẳng có đứa nào chịu về quê sinh sống.
Chúng bàn đem cụ về thành phố. Ông không chịu, nhất quyết ở lại trông coi nhà từ đường kị giỗ tế tự. Chúng bán hết ruộng nương, bán luôn nhà từ đường, ông cụ ngăn cản các con không được đành chịu.
Ông đốn tre cắt tranh về dựng cái chòi ngay trên mảnh đất cũ để ở.
Về sau bọn con cháu lừa ông lên xe chở tuốt về thành phố đem nhốt trong căn phòng mãi tận lầu năm. Thế là ông lão hết đường quay lại ruộng đồng.
Có lần ông cụ xách cái tay nải gõ cửa phòng tôi nhờ tôi dẫn ra bến xe tìm đường về quê. Tôi phải nói dối chẳng biết bến xe ở đâu. Hôm sau tôi đem chuyện này ra bàn với anh con và cô dâu trưởng,
Anh ta cười:Ông già tôi chướng lắm. Chắc thời gian sau sẽ quen.
Lúc đã mê thành phố thì có cho tiền cũng không chịu trở về nhà quê.Tôi bàn việc tạo cho ông già một chốn thiên nhiên có cây cỏ tiếng chim.
Ông con và cô dâu đồng ý. Hồi ấy tôi rất khâm phục người con và cô vợ anh ta, họ đúng là những người tháo vát, tiêu biểu cho hạng thị dân, thành thạo mọi việc, nói năng lịch sự, đáng khen ngợi hơn cả là chỉ trong có một buổi mai họ đã tạo ra cả một khung cảnh điền dã ngay giữa lòng thành phố.
Tôi đã thấy cây lá xanh và lần đầu tiên khu chung cư khô khốc vang lên tiếng chim làm mát cả lòng ngưòi!
Tôi lạc tôi
tôi như một cây già
bứng đi trồng nơi khác
rễ không luồn đất mới
nên cứ hoài lung lay
tay phải thành tay trái
chút rễ non xéo quày
nắm đất quen hết nhựa
tôi chết khô. từng ngày
trót làm người xa xứ
bao góc nhọn cuộc đời
như mũi tên vút tới
chảy máu hoài không thôi
đêm. thương tích. ngọt ngào
ngày. êm đềm. gượng gạo
cuộc sống vừa ngắn dài
tình yêu thành chiêm bao
tôi lạc tôi. mất tích
con đường dài bóng nghiêng
tìm tôi. tôi tìm mãi
lạ đến bước chân mình.
Đặng phú Phong
Cái chết oan khuất của nhạc sĩ Minh Kỳ
Nha Trang là miền quê hương cát trắng
Có những đêm nghe vọng lại, ầm ầm tiếng sóng xa đưa
Nha Trang cánh đồng bao la bát ngát
Hương quê dâng lên ngào ngạt, hòa cùng sức sống yên vui ...
Ai ơi, người về cho ta nhắn với
Nha Trang quê hương dịu hiền, ngàn đời lòng tôi mến yêu ...”
Ai đã sinh ra và lớn lên ở Nha Trang, hoặc đã từng ghé lại đây đôi lần, đều không quên bài hát dễ thương này, mà cả một thời gian gần hai thập niên, đài phát thanh Nha Trang đã dùng làm nhạc hiệu mở đầu.
Cuối tháng 3/75, Nha Trang bị nhận chìm trong làn sóng đỏ.
Người Nha Trang đã cùng chịu chung số phận. Kẻ bị giết, người bị tù đày, gia đình, bè bạn, thầy trò, chia ly tan tác.
Số phận của nhạc sĩ Minh Kỳ, tác giả bài hát này (cùng nhiều bản nhạc về Nha Trang khác nữa) cũng đã gắn liền với định mệnh đau thương của thành phố mà ông đã được sinh ra, hết lòng yêu thương và đã gởi trọn lòng mình qua những dòng nhạc thiết tha trìu mến đó.
Ông đã bị giết. Cái chết thê thảm và oan khuất của ông có lẽ được ít người Nha Trang, - dù còn ở trên quê nhà, hay tha phương khắp chốn - biết đến.
Người viết bài này, có cái cơ duyên được ở chung cùng một trại tù với ông, và cũng đã được tâm sự cùng ông một vài ngày trước khi ông chết.
Đầu tháng 3/75, sau khi Ban Mê Thuột mất, những đơn vị từng sống chết với Cao Nguyên có lệnh triệt thoái.
Tôi theo đơn vị, chỉ còn một phần tư quân số, lần lượt “di tản chiến thuật” vào Cam Ranh, rồi Vũng Tàu để tái tổ chức, trước khi tham dự những trận đánh cuối cùng “cô đơn và buồn tẻ” ở những địa danh xa lạ: Cần Giuộc, Bến Lức, thuộc tỉnh Long An, ngăn bước chân địch quân đang ồ ạt kéo về vây hãm Sài Gòn.
Ngày 28/4/75, tôi và cả vợ con, theo lời hẹn của người bạn chí thân, là SQ Hải Quân, có mặt tại Bến Bạch Đằng. Nhưng đến giờ chót, trước sự ngỡ ngàng và tức giận của người bạn có lòng, tôi quyết định không cùng vợ chồng anh ấy xuống tàu di tản.
Có lẽ anh không hiểu được là tôi cũng đã khổ tâm biết dường nào để có cái quyết định “sống chết” ấy, mặc dù tôi biết trước là rồi tôi cũng phải trả một cái giá, chắc không nhỏ.
Tôi không đành lòng bỏ lại những đồng đội đã theo tôi từ những quê quán miền Trung, mà giờ đây đã trở nên xa tít mịt mờ trong tay giặc, và nhất là cha tôi, người cha đã làm gà trống nuôi con từ lúc tôi mới lên ba, mà tôi được tin là ông đã bị bắt và đang bị giam giữ ở đâu đó ngoài Nha-Trang.
Tôi không thể xa ông trong hoàn cảnh khốn cùng này.
Điều đáng ân hận nhất là, dù ở lại để chấp nhận mọi điều, nhưng tôi cũng không bao giờ có cơ hội gặp lại cha tôi.
Ông đã chết trong trại cải tạo Đá Bàn, cuối tháng 6/76, và đúng ngay vào cái đêm tôi bị chở bằng xe “bịt bùng” từ trại tù An Dưỡng Biên Hòa ra bến Tân Cảng để xuống tàu Sông Hương ra Bắc. Mãi gần năm năm sau tôi mới nhận được tin buồn.
Trại tù An Dưỡng Biên Hòa, cũng chính là nơi tôi đã gặp nhạc sĩ Minh Kỳ, và đã tâm tình cùng ông một ngày trước khi ông chết.
Tôi trình diện tại Trường Đại Học Kiến Trúc, bị đưa lên nhốt tại trại tù binh Tam Hiệp. Một tháng sau được chuyển đến trại tù An Dưỡng Biên Hòa, nằm bên cạnh phi trường quân sự Biên Hòa.
Trại An Dưỡng này, trước là một khu quân sự, về sau được chỉnh trang lại để tiếp nhận những quân nhân tù binh của ta được miền Bắc trao trả theo hiệp định Paris. Họ được nghỉ ngơi, bồi dưỡng cả sức khỏe lẫn tinh thần ở trại An Dưỡng này trước khi trở về đơn vị cũ và gia đình.
Đến trại này, tôi gặp những anh em ở đây từ trước cùng một số mới được chuyển từ các trại khác tới. Gồm đủ các quân binh chủng, kể cả những sĩ quan biệt phái về các Bộ, và Cảnh Sát.
Trong số này có nhạc sĩ Minh Kỳ. Tôi ở Nhà 1, còn anh Minh Kỳ ở Nhà 3 (?), cách nhau khu nhà bếp (gọi là hậu cần).
Cũng như những người Nha Trang khác, lớn lên vào những năm giữa thập niên 50, đầu thập niên 60, tôi thuộc lòng những bài hát Nha Trang của nhạc sĩ Minh Kỳ, nhưng chưa hề biết tên thật và cũng chưa được hân hạnh gặp ông. Trong Nhà 1, tôi nằm bên cạnh hai anh bạn tù lớn tuổi hơn tôi.
Một anh từ Trường Chỉ Huy Tham Mưu, một anh làm ở Nha Quân Pháp.
Hai anh này rất tốt bụng và vui tính, có quen biết nhạc sĩ Minh Kỳ. Biết tôi là dân Nha Trang, nên có lần anh đã giới thiệu tôi với anh Minh Kỳ.
Nhạc sĩ Minh Kỳ lớn tuổi hơn tôi nhiều, nên tôi gọi ông bằng Anh và xưng em..
Có lẽ bản tính của anh vốn thầm lặng, ít nói, và đặc biệt trong hoàn cảnh như vừa trải qua cơn ác mộng, chưa biết ngày mai sẽ ra sao này, anh lại càng ít nói hơn.
Gặp anh vài ba lần, tôi chỉ nói lên lòng hâm mộ của tôi về những bài hát Nha Trang, mà với tôi bây giờ nó lại là những kỷ niệm vô giá. Anh thường chỉ trả lời tôi bằng một nụ cười buồn.
Một đêm, cuối tháng 8/75 (31/08/75?),vào khoảng 09:30 tối, cả trại tù đang chìm trong bóng đêm với cả ngàn người tù đang nằm thao thức, bởi tâm tư còn nặng trĩu lo âu, đang chờ đợi những điều bất trắc nào đó sẽ đến với số phận mình, bỗng một tiếng nổ long trời kèm theo những tiếng la thất thanh, và rồi tiếng còi báo động, tiếng chát chúa trên loa phóng thanh, lệnh cho tất cả “cải tạo viên” nằm yên tại vị trí, kẻ nào bước ra khỏi nhà sẽ bị bắn tại chỗ.
Khi đám tù chúng tôi chưa hết hoang mang, thì tiếng xích sắt xe tăng T 54 tràn vào trại rít lên từng chặp, chia nhau bao vây từng căn nhà. Hằng loạt bộ đội, súng gắn lưỡi lê, mặt tên nào cũng đằng đằng sát khí túa vào từng nhà, kéo cơ bẩm lên đạn, quát tháo chúng tôi đứng dậy ngay tại chỗ, hai tay để trên đầu. Tôi có cảm giác là chúng tôi sắp bị xử tử…
Chúng tôi đứng bất động như vậy cho đến gần 10 giờ trưa. Nhìn qua khe cửa, tôi thấy mấy anh em tù ở nhà 3 khiêng một số người bị thương lên bệnh xá.
Cả ngày sau, tất cả tù đều không được ra khỏi nhà, ngoại trừ đi ra cầu tiêu và ở đó cũng có đầy lính gác. Sau đó, đúng vào ngày 2 tháng 9, Quốc khánh của VC, tất cả chúng tôi được đưa lên hội trường.
Ngồi chễm chệ trên dãy bàn trước mặt chúng tôi là những “thủ trưởng” không mang quân hàm, nên chúng tôi cũng chẳng biết họ là ai.
Chúng tôi bị “nghiêm khắc” cảnh cáo là “có bọn phản động trong các anh đã dấu diếm vũ khí, mang lựu đạn Mỹ vào để nhằm phá hoại thành quả kách mệnh”(!).
Sau đó chúng tôi làm “bản tự khai tội ác” và bắt đầu bài học số 1, “Đế Quốc Mỹ là kẻ thù của nhân dân ta”.
Khi ấy chúng tôi mới biết tiếng nổ tối hôm ấy đã xảy ra tại Nhà 3, làm chết và bị thương khá nhiều. Mọi dấu tích đã được thu dọn sạch sẽ, như chưa hề có việc gì xảy ra.
Có điều cái “sự cố” thảm khốc ấy, không phải như lời “lên lớp” hù dọa của mấy ông thủ trưởng, bởi một điều rất dễ hiểu là ngay từ lúc vào trại cho đến bây giờ, đã qua hằng trăm lần kiểm soát, vã lại hành trang mang theo của mỗi người tù đâu có cái gì, ngoài hai bộ áo quần, cái khăn lau mặt và bàn chải đánh răng. Tiền bạc và tư trang khác đã được “kách mạng” giữ hộ ngay sau khi nhập trại. Vậy thì một trái lựu đạn có phép màu nào lọt vào trong trại.
Điều quan trọng hơn, là nếu người tù nào dám liều mạng mang được lựu đạn vào trại thì cũng chỉ nhằm mục đích giết kẻ thù chứ sao lại giết chết bao nhiêu bè bạn của mình?
Những câu hỏi đó đã có sự trả lời chính xác ngay sau đó. Một số bạn tù ở Nhà 3 và Nhà kế bên kể lại như sau:
Nhà 3 (chứa khoảng 80 tù nhân, đa số là SQ Cảnh Sát) nằm đối diện ngay trước Khu Trực Ban và Nhà Vệ Binh của Trại, chỉ cách nhau chừng hơn năm mét và một hàng rào kẻm gai.
Khi ấy tổ của nhạc sĩ Minh Kỳ đang họp để phân công nấu bếp vào ngày mai, thì một quả lựu đạn được quăng vào vách tôn ngay phía sau làm 3 người chết tại chỗ và khoảng 8 người bị thương.
Nhạc sĩ Minh Kỳ bị thương rất nặng, được anh em tù khiêng lên bệnh xá cùng với những anh em bị thương khác.
Ông bị thương ở ngực, bụng và cổ rất nặng. Biết mình sắp chết nên trăn trối với những bạn tù: Tụi mày về nói với vợ tao ráng nuôi con tao, chắc tao không sống được.
Sau đó máu ở ngực và cổ chảy ra lênh láng. Ông vừa la vừa rên :
- Sao chân lạnh quá!
- Lạnh quá! Sao bụng tao lạnh quá! Sao ngực tao lạnh quá!
Ông chết từ từ, chết từ chân đến bụng rồi đến ngực cho đến lúc tắt thở.
Một cái chết mà chính Ông cảm nhận được, biết được nó đến với mình từng phút từng giây.
Sáng sớm hôm sau, anh em bạn tù, với sự giám sát của toán vệ binh VC, đem chôn các bạn tù vắn số của mình trên một mảnh rừng bên ngoài vòng đai phi trường quân sự Biên Hòa.
Ai cũng biết là trái lựu đạn giết chết nhạc sĩ Minh Kỳ cùng những người bạn tù khác, là do chính bọn VC quăng từ khu trực ban của Trại phía bên kia hàng rào.
(Có một số Sĩ Quan ngành đạn dược còn cho là tiếng nổ ấy có thể là tiếng nổ của đạn B40 hay B41, có sức tàn phá còn hơn cả lựu đạn).
Và cũng sau ngày ấy, chúng tôi phải chịu một trò chơi trả thù ác độc từ phía những người chiến thắng. Mỗi ngày chia nhau đi gỡ các bãi mìn trong hàng rào phi trường quân sự Biên Hòa.
Họ đã bày ra cái trò giết người dấu tay ở Nhà 3, để rồi lại lấy đó làm lý do giết tiếp những người còn lại bằng cái trò chơi đẫm máu “gỡ mìn” này.
Những bãi mìn này do Công Binh của ta thiết lập chằng chịt dọc theo hệ thống phòng thủ phi trường.
Bây giờ, không có sơ đồ những bãi mìn, chúng tôi lại là những người không chuyên môn về mìn bẫy, có nhiều anh em giữ các chức vụ tham mưu, hay được biệt phái về các bộ khác, chưa hề thấy lại quả mìn sau ngày rời khỏi quân trường.
Vậy mà bây giờ phải tham dự cái trò chơi bất nhân này. Ngày nào cũng có mìn phát nổ, người chết, vài người mất tay, mất chân, nhưng vẫn không làm giao động được tấm lòng của những người “kách mạng!”.
Và cũng chính nhờ được cắt cử đi đào huyệt chôn một người bạn tù chết mìn, sớm trả “nợ máu” sau ngày miền Nam “giải phóng” này, đám chúng tôi mới phát hiện được bốn ngôi mộ mới đã nằm sẳn tại “nghĩa trang” vô danh trong một mảnh rừng hoang.
Trước mỗi ngôi mộ được đắp đất sơ sài đó có cái bia làm bằng một mảnh gổ nhỏ. Bọn chúng tôi lén đọc tên trên từng tấm bia viết bằng sơn đỏ, trong đó có tên Vĩnh My (Vĩnh Mỹ?). Đó chính là tên trong khai sinh của nhạc sĩ Minh Kỳ (Nguyễn Phúc Vĩnh Mỹ).
Dưới sự canh gác nghiêm ngặt của đám vệ binh, tôi chẳng biết làm gì khác hơn là khi đi ngang trước mộ anh để trở về trại, chắp hai tay trước ngực và cúi đầu tưởng niệm anh cùng những bạn bè xấu số đã chết tức tưởi cùng anh.
Lòng tôi nhói lên đau đớn như vừa bị một nhát chém hư vô nào đó.
Trong tôi vừa mới mất thêm một điều gì, mà với tôi nó trở thành thiêng liêng hơn là kỷ niệm.
Nhiều đêm sau đó tôi trằn trọc cả đêm không ngủ. Dư âm những bài hát NhaTrang của anh lúc nào cũng văng vẳng bên tai tôi. Tâm tư lúc nào cũng mơ màng đến thành phố Nha Trang, đến ngôi trường Võ Tánh, nhớ da diết những kỷ niệm ấu thơ, của những ngày đi học, và hình dung đến từng khuôn mặt bè bạn thân quen…
Cũng mới đây thôi, mà bây giờ tưởng chừng như đã là một quá khứ thật xa xăm, mơ hồ như kiếp trước.
Ba mươi năm chiến tranh trên quê hương đã đem lại biết bao điều bi thảm. Vậy mà sau khi chiến tranh chấm dứt lại còn nhiều bi thảm hơn.
Cái chết của nhạc sĩ Minh Kỳ cũng chỉ là một trong hàng vạn, hàng triệu điều oan khiên bi thảm đó.
Nhưng chúng ta xót xa và nhớ đến nhạc sĩ Minh Kỳ, bởi chính vì ông là một nghệ sĩ, một người đã sống và cống hiến cho đời bằng chính trái tim mình.
Đặc biệt với những người Nha Trang và những người yêu Nha Trang, đã mang ơn Ông vì Ông đã cho chúng ta những dòng nhạc biểu tượng của quê nhà, mà chúng ta sẽ mang theo dư âm tiếng hát cho đến suốt cuộc đời.
Với tôi, những đau đớn này cứ tưởng chỉ chôn chặt trong lòng, không ngờ sau khi xem chương trình nhạc Lê-Dinh trên Thúy Nga Paris trước đây, trong đó nhạc sĩ Lê-Dinh có nhắc tới cái chết của nhạc sĩ Minh Kỳ, và mới đây là chương trình Huyền Thoại Lê Minh Bằng trên Asia, đã làm tôi nhớ thật nhiều đến cái chết của Ông và ngồi xuống viết lại những dòng này.
Xin được thay một nén hương lòng đốt lên cho một người đồng hương, đồng tù, bỏ bạn bè ra đi bằng một cái chết thảm thương, oan khuất…
Cũng để được nói lên lòng tiếc thương một nhạc sĩ tài hoa đã làm Nha Trang sống mãi trong lòng người. Và nếu được phép, xin gởi một lời chia buồn thật muộn màng nhưng với trọn tấm lòng đến gia đình Ông.
Bắc Âu,
một ngày không có mặt trời
Phạmtín anninh
Ngón Út
Đưa anh ngón út anh cầm
Cái ngón ốm nhách mà em dấu hoài
Không đưa, anh nắm bàn tay
Anh nâng lên mũi hỏi ai bắt đền?
Mà đền thì nghĩ vô duyên
Đến trời cũng sợ trước quyền yêu nhau
Cái mũi không có tội đâu
Đánh hơi thấy sự ngọt ngào mới hôn
Bàn tay thiệt đáng đánh đòn
Biểu giơ ngón út sao còn dấu đi?
Đưa anh ngón út khó gì
Anh cầm mai mốt đi thi đậu liền
Bắt bướm là bướm ngồi yên
Hái hoa, hoa sẽ nở trên tay mà
Chưa kể lúc em pha trà
Cái ngón sẽ hát bài ca con người
Anh nâng ngón út vào môi
Cái ngón sẽ nói những lời trái tim
Đừng đưa lộn ngón nghe em
Lỡ ai đeo nhẫn, anh tìm sao ra?
Bùi Chí Vinh
Em gọi đó là hạnh phúc
Hạnh phúc mỗi khi được anh gọi bằng cái tên yêu thương là Nhím.
Hạnh
phúc trong mỗi sớm mai được anh đánh thức bằng giọng hát thì thầm, ấm
áp: "Nhím ơi. Dậy đi trời đã sáng rồi!".
Hạnh phúc là khi anh bảo: "Có ghét anh thì cũng nghe lời anh được không
Nhím?
Em đừng bỏ bữa".
Và thế là em vùng dậy ăn ngon lành hai bát cơm
rồi nhắn tin cho anh: "Em hết giận anh rồi".
Hạnh phúc là khi được anh nhắc nhở: "Gió mùa về, em đi ngủ nhớ quàng khăn giữ ấm để khỏi viêm họng nhé".
Hạnh phúc là khi em nhận được tin nhắn đầy yêu thương của anh: "Anh đã
đến Thành phố Vinh. Trời mưa to và lạnh. Nhớ em, Nhím ạ".
Hạnh phúc là khi được anh trách móc: "Ai được chiều nên hay bướng bỉnh?
- Nhím. Ai hay dỗi, khó tính, cầu toàn? – Nhím. Ai ngang ngạnh lại hay
sai hẹn? – Nhím. Ai thường mắc lỗi nhưng lại thích kết tội? – Nhím.
Ai
là người mà tôi rất nhớ nhung, yêu thương và quý trọng? – Nhím".
Hạnh phúc là khi em gục đầu vào vai anh để tìm một cảm giác thật yên bình.
Hạnh phúc là phút nắm tay anh đi giữa phố đông, nghe tim mình đang hát.
Hạnh phúc là lúc em giận dỗi bảo anh đừng đến nhưng lại mong anh đến cháy lòng.
Hạnh phúc là khoảnh khắc vòng tay ôm chầm lấy anh để khóc cho đỡ nhớ.
Hạnh phúc là tấm bưu thiếp sinh nhật anh viết: "Nhím biết không, Nhím là báu vật của anh".
Hạnh phúc là phút nắm tay anh đi giữa phố đông, nghe tim mình đang hát.
Hạnh phúc là lúc em giận dỗi bảo anh đừng đến nhưng lại mong anh đến cháy lòng.
Hạnh phúc là khoảnh khắc vòng tay ôm chầm lấy anh để khóc cho đỡ nhớ.
Hạnh phúc là tấm bưu thiếp sinh nhật anh viết: "Nhím biết không, Nhím là báu vật của anh".
Anh à, em đã hạnh phúc vì yêu và được yêu. Em hạnh phúc vì có anh.
Thứ
hạnh phúc giản dị mà chúng mình đã kiếm tìm, tạo dựng, trân trọng và
nâng niu.
Nhưng em hiểu tình yêu không phải lúc nào cũng đong đầy những
kỷ niệm ngọt ngào, những ký ức tươi đẹp, hạnh phúc không phải lúc nào
cũng là những niềm vui vẹn tròn, những nụ cười rạng rỡ.
Vì… trong hạnh
phúc còn có niềm đau.
Hạnh phúc thật thiêng liêng nhưng quá đỗi mong
manh.
Anh và em và thời gian… Để đến lúc chúng mình nhận ra rằng:
Hạnh phúc là luôn nghĩ về nhau ngay cả khi không được ở bên nhau.
Hạnh phúc là chia tay mà bớt đớn đau và không thù hận.
Hạnh phúc là phút thanh thản, nhẹ lòng cầu chúc cho nhau.
Hạnh phúc là khoảnh khắc mình hình dung và tin rằng người kia đang hạnh phúc.
Chúc anh đủ ngay cả khi thiếu vắng em.
Chúc em bình yên ngày không có anh.
Vậy là mình đang hạnh phúc phải không anh?
Hạnh phúc là chia tay mà bớt đớn đau và không thù hận.
Hạnh phúc là phút thanh thản, nhẹ lòng cầu chúc cho nhau.
Hạnh phúc là khoảnh khắc mình hình dung và tin rằng người kia đang hạnh phúc.
Chúc anh đủ ngay cả khi thiếu vắng em.
Chúc em bình yên ngày không có anh.
Vậy là mình đang hạnh phúc phải không anh?
Phương Thảo
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)