Thứ Năm, 19 tháng 9, 2013
Chai Dầu Gió Xanh ..t.theo
Sau trạm ghé này , biết mình đang từng phút gần hơn với Việt Nam , tôi như hình dung thấy bạn bè , trường ốc và những chuyện phải làm .
Một cảm giác vừa vui mừng vừa hồi hộp làm tôi nao nao trong lòng .
Phi cơ đang bay trong đêm nhưng ngay sáng mai là tôi sẽ có mặt trên quê hương yêu dấu của mình , sẽ có dịp thăm viếng , gặp gỡ những nơi mà tôi đã hoạch định chương trình để bắt đầu một cuộc hành trình mới .
Vừa chập chờn muốn ngủ thì bị đánh thức bởi giọng nói vang lớn từ cái loa trên trần phi cơ . Tiếng cô tiếp viên hàng không lậi đi lập lại bằng tiếng Anh giọng Tàu lơ lớ :
- Trường hợp cấp cứu ! ! Trường hợp cấp cứu ! ! Chúng tôi cần gấp một bác sĩ . Trên máy bay , nếu có ai là bác sĩ xin đứng lên giúp chúng tôi một tay ...
Cấp cứu ! Cấp cứu
Tôi tỉnh ngủ hẳn , quơ vội cái túi nhỏ và đi lên cabin phía trên , hỏi cô tiếp viên hàng không gần nhất :
- Trường hợp cấp cứu ở đâu vậy ? Tôi là y sĩ Vi , tôi sẽ giúp cô .
- Dạ xin y sĩ theo tôi . Bệnh nhân đang ở trên cabin hạng nhất .
Tôi đi theo cô này đến khu hạng nhất của phi cơ . Ghế ngồi ở khu này rộng rãi hơn và phần lớn các hành khách đang ngủ với những chiếc khăn che mắt phủ trên mặt cho dễ ngủ .Bệnh nhân là một thanh niên trẻ , đang nằm sóng sượt ngay trên sàn phi cơ .
Cả người anh ta co quắp lại như hình con tôm , hai mắt nhăm nghiền , mặt đẫm những giọt mồ hôi còn đọng lại .- Hello . Tôi là Dr V . Tôi sẽ giúp anh .
Chuyện gì xảy ra vậy ? - Dạ em đau bụng quá , không chịu nổi . Phải nằm xuống như vầy mới bớt một chút .
Em bị cách đây gần một tiếng đồng hồ , tưởng là chỉ sình hơi , ai dè càng lúc càng nặng hơn - Em tên gì ?
Tôi hỏi .- Dạ em tên John . Em là tiếp viên hàng không cho hãng máy bay , em làm ở khu hạng nhất này .
Lúc này thì hai học trò y sĩ của tôi là Patti và Mai đã đến . Patti lo cặp thuỷ đo nhiệt độ còn Mai thì giúp đo áp suất máu và hỏi về lượng đau của John .
Tôi bảo mấy người bạn đồng nghiệp của John :- Đồ dự trữ cho trường hợp cấp cứu đâu ? Làm ơn đem ra để tôi coi có gì dùng được không . Nhớ đem thêm mấy cái mền nữa để đắp cho John . Quay qua mấy em y sĩ tôi bảo :
- Hãy giữ cho John ấm và đừng cho ăn uống gì hết . Có thể cho một vài giọt nước vào môi để giữ môi không bị khô mà thôi . Dạ , nhiệt độ người của John là 99,8 F . Áp suất là 160 trên 100 , nhịp tim 112 và độ đau là 9 trên 10 . Mai thông báo .
- Cảm ơn em . Cứ giữ cho John ấm và lấy áp suất như vậy mỗi 10 phút . Nếu thấy thay đổi , cho tôi biết .
Tôi và Patti kiểm soát cái túi cấp cứu lớn mà cô tiếp viên hàng không vừa đem đến . Ngoài giấy tờ lặt vặt , chỉ thấy mấy thứ thuốc cấp cứu về tim như Digoxin , Lasix .
Trong túi lớn còn một túi nhỏ chứa mấy bịch nước biển se-rum và kim , dây dùng để chuyền dung dịch này vào cơ thể .
- Patti , em chuẩn bị đồ chuyền dịch nhé . Không làm ngay bây giờ nhưng nên chuẩn bị trước . Tôi nói .Tôi khám cho John . Mọi nơi bình thường .
Chỗ đau duy nhất là vị trí dưới bụng phía tay mặt . Chỉ nhấn hơi mạnh một chút là John đã nhăn mặt kêu đau , cố đẩy tay tôi ra .
Đây là trường hợp đau ruột dư mà phi cơ thì đang bay 50 000 mét ( độ cao hơi lớn với phi cơ dân sự ) trên không gian , đâu thể làm gì .
Tôi suy nghĩ thật nhanh rồi bảo Tim , xếp của John , là tôi muốn nói chuyện với phi công trưởng của phi hành đoàn . John bị đau ruột dư . Cần đưa vào nhà thương để mổ và điều trị gấp để bảo vệ sinh mạng . Tim đi một lát rồi trở lại .
- Thưa y sỹ , Phi Trưởng của chúng tôi nói là bây giờ máy bay đang bay qua lãnh thổ của nước Afghanistan không thể đáp xuống được , mong y sỹ thông cảm
. - Như vậy nước tới là nước nào ? Và mình có đáp xuống được không ? - Dạ , để tôi đi hỏi lại Phi Công Trưởng . Tim trở lại lần nữa và nói .
- Nước tới là Ấn Độ và việc đáp xuống có thể được , nhưng xin y sĩ xác định lại việc cần đáp xuống vào lúc ấy , vì hiện thời bây giờ chúng ta còn phải bay 3 tiếng nữa mới qua khỏi biên giới của Afghanistan .
Nếu đáp xuống theo chuyện cấp cứu thì cũng rất phiền hà và không biết bao giờ mình mới bay lên trở lại được .Đúng lúc ấy , Patti gọi tôi lại :
- Dr V , áp suất của John là 92 trên 60 , nhịp tim 125 và độ đau là 10 trên 10 . Em nghĩ là bệnh tình của John đang bị trở chứng đó Giáo Sư . Tôi trở lại chỗ John nằm .
Tay chân John lạnh toát , mà mặt mũi thì luôn toát mồ hôi , dù Mai đang liên tục lau mặt cho anh ta .
Đúng như Patti nói , John đang trong tình trạng trở chứng , máu huyết tuần hoàn bị sụt xuống .
Nếu tình trạng này kéo dài thì nguy cho tính mạng . Vây quanh John là những đồng nghiệp của anh ta , ai nấy đều lo lắng .
Có mấy hành khách cũng tìm đến tò mò coi chuyện gì xảy ra . Tôi nói Tim là nên mời hành khách về lại ghế ngồi để chúng tôi có chỗ xoay trở làm việc .
- Bắt đầu chuyền nước biển đi . Mở wide open rộng ra , và giữ cho John ấm .
Tôi bảo Patti . Quay qua John , tôi bắt chuyện :
- Hi John , em sao rồi , đau nhiều không ?
Bây giờ chúng tôi chuyền nước biển cho em nhé . Mà trước giờ em có bị bệnh gì không ? Có bị cao máu tiểu đường không ?
- Em đau quá Dr Vi ơi . Em trước giờ khoẻ lắm không có bệnh gì hết . - John có gia đình vợ con gì chưa ?John gượng cười
:- Dạ chưa , Dr Vi . Nhưng em có bồ rồi . Cô ấy đang chờ em ở Singapore . - A , vậy là em phải khoẻ lại cho mau để về gặp cô bạn . Tôi nói chuyện đùa với John để giúp em quên bớt cái đau . Phải cố giúp John không bị nặng thêm , đủ sức chịu đựng trong khi chờ cấp cứu . Bỗng tôi chợt nhớ một việc .
- John à , tôi có một loại thuốc riêng mà khi nào cần thì tôi lấy ra dùng . Mà nó giúp tôi rất hiệu nghiệm . Nếu em muốn thì tôi sẽ chia sẻ với em ?John gật đầu lia lịa
.- Dạ bây giờ y sỹ có gì thì xin cho em dùng . Em đau quá .
Em đi đường bay này thường lắm nên biết là mình không thể đáp xuống đây đuợc đâu . Em lo quá , không hiểu có qua nổi cơn bệnh này không .Tôi mở cái xách tay nhỏ , lấy chai dầu gió xanh của mình ra mở nắp cho John nhìn .- Đây là chai dầu mà tôi hay dùng và nó rất hiệu nghiệm .
Tôi đi dâu cũng có nó . John dùng thử nhé , nếu chịu được cái mùi hơi mạnh một chút của nó . Tôi đưa chai dầu lên mũi John . Em hít một hơi nhẹ và nói .
- Mùi này cũng dễ chịu mà . Em thích lắm . - OK , vậy thì tôi xức cho John nhé .
Tôi xoa dầu vào chỗ đau của John ở bụng , vừa làm vừa nói chuyện . Tôi hỏi chuyện làm , chuyện bạn bè , chuyện đời sống của John ở Singapore hay ở Mỹ .
Mai và Patti vẫn tiếp tục lấy áp suất và nhiệt độ trong khi John dần dà có vẻ thích thú khi kể chuyện về đời mình cho chúng tôi nghe .Khoảng chừng một tiếng đồng hồ sau , Patti thông báo là tuy độ đau không thay đổi , vẫn ở khoảng từ 8 cho tới 10 , nhưng áp suất của John đã lên cao trở lại , khoảng 140 trên 90 và nhịp tim hạ xuống còn 100 nhịp trong một phút . - Vậy là tốt . Em cho nước biển chảy chậm lại một chút đi . Tôi bảo Patti .Dần dà , John có vẻ tỉnh táo hơn một chút , sắc diện cũng khá hơn .
Tôi khám lại John thì thấy tình trạng ruột dư của em không thay đổi gì lắm . Tim , xếp của John , trở lại
.- Thưa y sỹ , chúng ta bắt đầu vào biên giới Ấn Độ . Phi Trưởng của chúng tôi xin ý kiến y sĩ . Nếu cần ngừng lại thì phải xin phép đáp xuống , thủ tục sẽ lâu lắm mà rồi chưa biết chừng nào máy bay mới có thể cất cánh trở lại .- Sau Ấn Độ thì sẽ tới nước nào ?
Tôi hỏi . - Dạ Miến Điện rồi Thái Lan trong vòng 3 tiếng đồng hồ nữa .
- Để tôi nói chuyện với John xong sẽ trả lời câu hỏi của anh .Tôi trình bày rõ ràng với John về những chi tiết này . John trầm ngâm rồi hỏi lại tôi
:- Y sỹ nghĩ như thế nào , em có thể chịu nổi để về đến Singapore không ? - Thật sự thì rất khó đoán trước cơ thể của John sẽ chuyển động như thế nào nhưng tôi nghĩ là sẽ còn sức chịu được vài tiếng nữa , ít ra thì mình cũng có thể đến Thái Lan . Việc chữa trị ở đó cũng tốt hơn nếu so với những nơi khác .
Tôi trả lời cho John .
- Xin y sỹ quyết định cho em vậy đi .Tôi quay lại bảo Tim .- Cứ tiếp tục bay đi . Khi nào gần đến Thái Lan thì cho tôi biết .
Trong suốt mấy tiếng bay tiếp , John và tôi vẫn tiếp tục trò chuyện , dầu gió xanh vẫn được thoa cho John đều đều .
Nhiệt độ và áp suất máu của John khá bình ổn . Bịch nuớc biển vẫn nhỏ giọt đều nhưng chậm hơn lúc trước vì áp suất của John đã cao hơn
Chúng tôi đã đưa John lên nằm trên giường trong phòng dành cho phi công .
John cho biết em thấy có vẻ khá hơn lúc ban đầu một chút . Khi bay qua biên giới Thái Lan , tôi đã quyết định không dừng lại nữa vì từ nước này về Singapore thì chỉ còn một tiếng đồng hồ mà thôi và tình trạng của John thì thấy không thay đổi mấy . Cả đêm ấy , ba thầy trò chúng tôi không chợp mắt chút nào nhưng vẫn không thấy mệt .
Rốt cuộc thì phi cơ cũng đáp xuống phi trường Singapore .
Khi xe cứu thương đến phi cơ để đưa John vào bệnh viện cấp cứu , cậu ấy đã nắm tay tôi và ngập ngừng hỏi :- Em cảm ơn Doctor Vi và phái đoàn của doctor đã giúp em rất nhiều . Em sẽ không bao giờ quên y sỹ V đâu . Chúc y sỹ và phái đoàn thành công trong chuyến đi này . Nếu được , xin y sỹ cho em xin luôn chai dầu gió xanh đó , có được không ? John muốn xin chai dầu gió xanh của tôi ? Tôi cảm động đến sững sờ khi trao cho John chai dầu xanh trước khi từ biệt .Phi cơ tiếp tục bay . Sắp thấy lại Sài Gòn . Trong túi xách không còn chai dầu xanh .
Vậy là chai dầu không cùng tôi Tôi biết các bạn trẻ ngày nay , như tôi thuở nào , có thể coi chai dầu xanh là thứ « mắc dịch » .
Vậy mà với người Việt mình , hình như ai ai trong đời ít nhiều cũng đều biết đến nó .
Chai dầu gió xanh của mỗi người có thể khác nhau .
Có thể là những kỷ niệm thời ấu thơ với người thân yêu , một lần gặp gỡ hay chia lìa , một mối tình , một ánh mắt , một nụ cười , một dáng đi , một tà áo , một giọng nói , một câu dỗ dành , một bài hát hay một lời thơ ...
Đôi khi bất chợt gặp lại , mùi hương nồng ấm của thứ dầu gió này có thể giúp ta dăm ba giây phút sống lại những kỷ niệm xa xưa , để tâm hồn dịu đi đôi chút giữa cuộc sống xô bồ .Trong hành trình dài của đời người , với những bể dâu gập ghềnh trong cuộc sống , tôi thấy mình vẫn có chai dầu xanh làm bạn đồng hành và được nó trợ giúp .
Âu đó cũng là niềm vui và hạnh phúc . Tôi cảm ơn nó .trở lại quê Mẹ . Nhưng hơn bao giờ , tôi thấy chai dầu xanh đang ở trong tim mình Và thấy mình muốn khóc .
Võ Quách Thị Tường Vi
Chai Dầu Gió Xanh
Tôi là người hành khách phút cuối của chuyến máy bay Singapore Airline #1490 với hành trình qua ngả Moscow , Singapore , rồi Tân Sơn Nhất . Cửa phi cơ đóng lại ngay sau khi tôi vào .Đây là chuyến bay đưa phái đoàn của trường đại học nơi tôi giảng dạy đi Sài Gòn .
Đoàn gồm 33 giáo sư và sinh viên do tôi hướng dẫn , có nhiệm vụ thực hiện một chương trình y tế và văn hoá giữa trường chúng tôi và một số đại học bên Việt Nam .
Sau cả tuần căng thẳng vì lo liệu đủ thứ , đã tưởng không thể bay , ngày chót khi cố thu xếp mọi việc để tiếp tục chuyến đi , vào được ghế của mình , tôi lả người mệt muốn ngất đi được
Thò tay vào giỏ xách tôi lấy ra chai dầu gió xanh , nhón ngón tay trỏ vào đầu chai , chấm chút dầu xoa vào hai bên thái dương .
Chỉ trong chốc lát , dường như cơn mệt mỏi dịu dần .
Thật cảm ơn chai dầu gió xanh này . Nó và tôi , như « đôi bạn » thân thiết , bao năm qua luôn ở bên cạnh nhau . Lần này , chúng tôi cùng bay về quê xưa , mùi dầu xanh quen thuộc nhắc nhớ bao chuyện cũ .Mẹ tôi mất khi tôi vừa 16 tuổi , tuổi đẹp nhất của thời con gái .
Tôi nhớ rất rõ nhà tôi lúc ấy ở gần phi trường quân sự Biên Hoà , đêm đêm tiếng bom đạn pháo kích nghe rất gần .
Ban đầu rất sợ , tôi đã tung mền và trốn dưới ... gầm giường , tự làm mồi cho muỗi đói mà không hiểu là mấy tấm vạt giường mỏng manh đó làm sao mà đỡ nổi bom đạn .
Riết rồi cũng quen , mỗi lần nghe pháo kích , tôi không núp gầm giường nữa mà tỉnh bơ nằm ngủ . Con người ai cũng có số , nếu tới số chết thì ở đâu cũng chết ... Thời ấy , tôi đã thầm biện hộ cho cái tính làm biếng của mình như thế . Một đêm kia , đang ngủ mê , tôi thình lình bật dậy vì một thứ âm thanh khủng khiếp .
Tai ù đặc không thể phân biệt được . Mắt vừa mở thì trời ơi , thấy cả bầu trời xanh lè đang chụp xuống . Mái nhà , những bức tường đã bay đâu cả rồi . Dần dà , tôi nhận ra tiếng la khóc chung quanh . Nghe thì mơ hồ như từ cõi nào , nhưng nhìn thì hiện ngay trước mắt : Ba tôi đang ôm mẹ tôi , máu tuôn xối xả từ người mẹ . Tôi không biết mình đang ở đâu .
Mãi lát sau mới nhận ra cái tủ đựng đồ ăn gãy hết hai chân đứng chỏng chơ .
Thì ra chúng tôi đang trên nền cũ của nhà bếp , chính giữa là một cái hố sâu , khói bụi đang bốc hơi .
Bên miệng hố , con chó Tô Tô của tôi , mình mẩy đẫm máu , đang rên rỉ .
Con chó Ki Ki thì lẩn quẩn kế bên , miệng gầm gừ thảm thiết . Đây là cặp chó mà ba tôi đã xin về nuôi được chừng 2 năm rồi . Có cái gì ướt trên mặt tôi . Đưa tay lên vuốt mặt , thấy bàn tay toàn là máu .
Thì ra tôi cũng đã bị thương trên trán và cả ngôi nhà gia đình đã trúng đạn pháo kích .Sau đó , mẹ tôi được đưa khẩn cấp vào nhà thương Biên Hoà .
Hai tuần sau , vết thương biến chứng sao đó , phải chuyển gấp lên nhà thương Cơ Đốc ở Phú Nhuận , Sài Gòn .
Tôi ở lại trong nhà thương Cơ Đốc với Mẹ nhiều ngày . Tại đây , tôi có dịp tiếp xúc với các y tá điều dưỡng và các vị bác sĩ hằng ngày đến chăm sóc cho mẹ , và bắt đầu cảm tình với ngành y từ đó .
Nhờ sự chạy chữa tận tậm của bệnh viện , thương thế mẹ tôi rồi cũng ổn định dần , nhưng từ khi rời bệnh viên về nhà , bà không còn khoẻ mạnh như xưa . Bà hay đau lưng , nhức mỏi , không còn sức làm việc như lúc chưa bị thương .
Rõ ràng là mẹ ngày một suy yếu hơn .
Dù đầu óc còn non nớt , tự tôi cũng thấy được điều này .
Thời ấy , trong túi áo bà ba của mẹ tôi lúc nào cũng có một chai dầu gió xanh mà bà thường lấy ra để xoa hay ngửi .
Tôi cũng đã nhiều lần tự hỏi là dầu này có công hiệu hay không , vì chị em tôi ai nấy đều « sợ » bị bôi thứ dầu này . Khi chúng tôi bị sổ mũi nhức đầu , mẹ đều bắt chị em tôi phải bôi dầu hay cạo gió .
Trời ơi , mỗi lần thấy mẹ tôi với chai dầu « mắc dịch » này chị em tôi đều chạy trốn , mặc cho bà phải kêu tên từng đứa dỗ dành . Rồi đến một ngày không bao giờ tôi quên . Hôm đó mẹ tôi rất mệt .
Khuôn mặt xanh xao , giọng nói yếu ớt , mẹ sai tôi đi chợ , mua thức ăn rau cải và dặn thêm : nhớ ghé qua hàng thuốc mua cho mẹ chai dầu xanh , vì chai dầu mẹ đang dùng gần cạn .
Tôi tung tăng đi chợ mua thức ăn như lời Mẹ dặn .
Trên đường về đầu óc tôi sao vẫn băn khoăn giống như mình đã quên một chuyện gì quan trọng . Cá cơm kho tiêu , canh cải bẹ xanh nấu tôm , rau muống xào , chuối tráng miệng ..
. Đủ hết . Đâu còn thiếu món gì .
Mãi tới khi về đến gần nhà , băng qua cầu Đúc , tôi mới đứng khựng lại vì chợt nhớ ra lời mẹ dặn thêm là mua chai dầu xanh cho mẹ .
Tôi lật đật vòng lại , đi lên chợ để mua chai dầu .
Đường lên chợ sao bây giờ thấy quá xa , tôi chạy hoài không tới ... Rồi sau cùng tôi cũng về đến nhà , nhưng sao nhà tôi lại đông người như vậy ?
Các cô bác láng giềng đang bu quanh ba tôi .
Thấy tôi vào nhà , các em chạy lại nắm tay tôi và khóc .
Ba tôi ôm tôi , nói trong tiếng nấc : má con đã chết rồi ...
Tôi sững sờ nhìn chai dầu xanh mà tôi đang nắm chặt trong tay . Tôi đã về muộn rồi . Mẹ tôi năm ấy chỉ có 38 tuổi . Ít ngày sau khi Mẹ qua đời , con chó Tô Tô vốn thường luẩn quẩn bên chân Mẹ , cùng bị thương trong trận pháo kích , cũng chết theo .
Em tôi tìm thấy nó bỏ ăn , mãi nằm bên gốc cây măng cụt mà mẹ tôi đã trồng mấy năm về trước .
Từ đó , ở cái tuổi « ăn chưa no lo chưa tới » của mình tôi đã phải đối đầu với thật nhiều khó khăn trong cuộc sống .
Ngoài việc nhà , nấu cơm giặt giũ , chăm sóc các em , tôi còn phải ngược xuôi lo việc chi tiêu trong nhà với đồng lương công chức giới hạn và bấp bênh của ba tôi , những việc mà khi còn me , tôi không bao giờ phải bận tâm lo lắng .
Cũng từ đó , tôi bắt đầu thân quen với chai dầu mua về cho Mẹ .
Dù qua nhiều dâu bể của đời , chai dầu gió xanh vẫn là người bạn đồng hành với tôi từ mấy chục năm qua .
Nghe có tiếng thầm thì chung quanh , tôi mở mắt ra .
Trước mặt tôi là mấy giáo sư đồng nghiệp cùng trường và cả đám sinh viên của chúng tôi . Thấy tôi tỉnh dậy , cả đám cùng vỗ tay vui vẻ :- Chào mừng giáo sư , chào mừng y sĩ .
Chúng em vui lắm vì có cô đi cùng . Vậy là chuyến đi này là hoàn toàn mỹ mãn .Donna , một cô sinh viên gốc người Mễ rất linh hoạt dễ thương của tôi hỏi .
- Cô ơi , mình sắp tới Việt Nam , cô hồi hợp không cô ?
Nhiều em khác cùng hỏi rồi thay phiên ôm tôi để chia niềm thương cảm . Số là mới cách đây mấy ngày , tôi gặp một tai biến rất lớn trong đời , đã tưởng không thể tiếp tục công việc với phái đoàn .
Ngày cuối , khi quyết định cùng bay thì tới vào phút chót , phi cơ không còn chỗ để ngồi chung với phái đoàn của mình .Chuyến đi đã chuẩn bị từ lâu .
Các giáo sư và sinh viên tham dự ai nấy đều nao nức đợi ngày đi .
Riêng tôi thì mong muốn đem lại một chương trình nào đó có lợi ích cho nền y tế của Việt Nam , nhân tiện được thăm lại quê hương , bè bạn cũ .
Mọi sự xếp đặt cũng đã xong , nhưng nếu thiếu người hướng dẫn như dự tính từ bước đầu thì cũng không trọn vẹn . Vì vậy khi thấy tôi trong chuyến bay , cả đám cùng vui lăng xăng nói cười .
Nói « cả đám ? » cho thân tình chứ thật ra trong phái đoàn 33 người , lớp trẻ dưới tuổi ba mươi chỉ có 12 em sinh viên , trong số này có 3 em gốc Việt , đang học chương trình cử nhân . Phần còn lại , đều lớn tuổi và già giặn hơn nhiều .
Trong nhóm này có 2 em đang hành nghề y sĩ ở Houston và Dallas ; một em sắp xong y sĩ ; 5 em sắp ra tiến sĩ sau khi trình luận án vào mùa Hè này , và 12 em khác đang học chương trình tiến sĩ .
Dù thầy bằng trò hay trò bằng thầy về tuổi đời nhưng các em rất lễ phép và rất biết kính trên nhường dưới .
Như vậy phái đoàn chúng tôi 33 người cũng có vẻ thuận thảo , hùng hậu . Hy vọng chuyến đi sẽ vui vẻ thành công .
Sau khi rời khỏi công việc bên bệnh viện , đã hơn 5 năm rồi , tôi nhận làm giảng sư chính thức cho trường đại học này . Tôi cũng đã dạy bán thời gian cho trường mấy năm trước nữa .
Thấy không khí dạy học vui vẻ , nhất là tiếp xúc được với nhiều em sinh viên Việt Nam , gồm cả các em sinh tại Mỹ lẫn các du học sinh , nên tôi cũng thích vì có dịp hướng dẫn và khích lệ các em .
Trong trường , các em sinh viên người Việt hay gốc Á Châu thường tìm đến tôi để hỏi ý kiến về việc học hành , hay chỉ để than thở những việc xảy ra trong đời sống hằng ngày .
Không biết từ bao giờ tôi đã trở thành một giáo sư hướng dẫn cho các sinh viên gốc Á Châu ở trường đại học này .
Tôi thật không ngờ mình lại trở thành một bà « gõ đầu trẻ » , loại công việc mà khi còn trẻ tôi không bao giờ mơ ước để trở thành .
Năm ngoái tôi có khai giảng một khoá học mà tôi phụ trách dạy về y học và văn hoá Việt Nam . Các sinh viên ghi tên học rất đông , Mỹ có Việt có .
Các em gốc Việt sau đó có đến cảm ơn tôi vì khoá học đã cho các em có cơ hội tìm hiểu thêm về nguồn gốc Việt Nam của mình .
Trạm đầu tiên xuống Moscow nghỉ ngơi chừng nửa tiếng . Cả đám sinh viên đã hăng hái mua sắm . Khi trở lại máy bay , cô cậu nào tay cũng mang theo những túi quà kỷ niệm .
Thứ Bảy, 14 tháng 9, 2013
Nghe NS Trịnh Nam Sơn
Tháng 4 / 1975, chàng thanh niên Trịnh Nam Sơn theo
gia đình người chị gái đi di tản và đã đến ở đảo Guam một thời gian ngắn
rồi sau đó đến Hoa Kỳ theo diện tị nạn.
Cũng như bao nhiêu người Việt mới nhập cư lúc đó, với
vốn tiếng Anh rất hạn chế, Trịnh Nam Sơn trải qua rất nhiều công việc
lao động chân tay để kiếm sống.
Anh không nề hà việc gì, từ rửa xe hơi, rửa bát đĩa ở nhà hàng hay theo những tàu đánh cá lên tận vùng Alaska băng giá đánh bắt cua biển dài hơn nửa năm trời.
Anh không nề hà việc gì, từ rửa xe hơi, rửa bát đĩa ở nhà hàng hay theo những tàu đánh cá lên tận vùng Alaska băng giá đánh bắt cua biển dài hơn nửa năm trời.
Tới giờ, Trịnh Nam Sơn vẫn nhớ rõ chuyến đi đánh bắt
cua biển. Anh kể, khi đó, thấy nhiều người Việt rủ nhau theo tàu cá lên
tận Alaska, một nơi nổi tiếng về phong cảnh tuyệt đẹp, anh cũng hồ hởi
xin đi.
70% người làm việc tại đó là người Việt, còn lại là
người Philippines.
Trong 6 tháng liền, công việc của anh ở đây chỉ là sơ chế cua, cá từ tàu đánh bắt hải sản ở biển Alaska mang về. Cua ở đó rất to, cỡ chừng 6-7 kg/ con, dài chừng 80cm.
Trong 6 tháng liền, công việc của anh ở đây chỉ là sơ chế cua, cá từ tàu đánh bắt hải sản ở biển Alaska mang về. Cua ở đó rất to, cỡ chừng 6-7 kg/ con, dài chừng 80cm.
Hầu như ngày nào cũng làm việc 18-20 tiếng, chỉ có 4-6
tiếng để ngủ, mà ngủ luôn trên tàu, không có thời gian để ngắm cảnh.
Bù lại, lương rất cao, gấp 4 lần bình thường. Trịnh Nam Sơn kể, anh đi vì hiếu kỳ là chính. Tiền nhiều thì cũng thích đấy, mà ở Alaska cũng chả có cơ hội để tiêu.
Bù lại, lương rất cao, gấp 4 lần bình thường. Trịnh Nam Sơn kể, anh đi vì hiếu kỳ là chính. Tiền nhiều thì cũng thích đấy, mà ở Alaska cũng chả có cơ hội để tiêu.
Nửa năm mới về nhà một lần. Nhưng bạn bè anh đông, khao
bạn bè xong cũng vừa hết tiền. Anh cười hiền: “Hồi đó, đi vui là chính,
cốt là trải nghiệm”. Anh trải nghiệm hai lần đi Alaska: 6 tháng chế
biến cua biển và 6 tháng chế biến cá hồi.
Khoảng cuối năm 1976, Trịnh Nam Sơn qua California và
bắt đầu vừa đi làm, vừa theo học đại học cộng đồng. Thời này, anh vừa
học, vừa làm, vừa chơi nhạc với mấy nhóm nhạc người Hoa ở vùng Los
Angeles.
Lúc đó, anh làm việc cho công ty thiết kế hệ thống
nước, máy lạnh, máy sưởi cho các công trình xây dựng lớn như bệnh viện,
toà nhà cao tầng, khách sạn...
Còn việc chơi nhạc, thoạt đầu đều là cùng những người
bạn học chung trường.
Sau này, anh nhận thấy vốn liếng âm nhạc của mình quá nghèo nàn nên quyết định bỏ hết mọi việc và đi học nhạc tại trường Dick Grove School of Music.
Sau này, anh nhận thấy vốn liếng âm nhạc của mình quá nghèo nàn nên quyết định bỏ hết mọi việc và đi học nhạc tại trường Dick Grove School of Music.
Tốt nghiệp trường nhạc năm 1986, Trịnh Nam Sơn bắt đầu
có một số sáng tác ghi dấu ấn như Dĩ Vãng, Về Đây Em, Quên Đi Tình Yêu
Cũ, Con Đường Màu Xanh...
Trong khoảng thời gian từ năm 1986 đến cuối thập niên
90 là giai đoạn Trịnh Nam Sơn sáng tác và ra album nhiều nhất.
Anh không
ngờ Con đường màu xanh được yêu chuộng nhất tại Việt Nam, trong khi đó ở
hải ngoại là Về đây em.
Từng được hỏi nhiều về Con đường màu xanh, nhưng đây là
lần đầu tiên Trịnh Nam Sơn hé lộ về quá trình anh viết nhạc phẩm này.
Anh kể: “Con đường màu xanh được sáng tác năm 1991 và đây cũng là khoảng thời gian tôi vừa trở lại cuộc sống độc thân “hậu hôn nhân”.
Anh kể: “Con đường màu xanh được sáng tác năm 1991 và đây cũng là khoảng thời gian tôi vừa trở lại cuộc sống độc thân “hậu hôn nhân”.
Dĩ nhiên không có đổ vỡ nào không đau buồn, nhưng dù
sao tôi cũng mong rằng mỗi người hãy hướng đến một con đường màu xanh,
màu của lạc quan, hy vọng để đi đến một tương lai tốt đẹp hơn”.
Những trải nghiệm ấy đã cho tôi cảm hứng sáng tác nhưng chúng không “tạo hiệu ứng buồn” trong những bài hát của tôi”.
Từng là fan của tác giả Con đường màu xanh, tôi tò mò
muốn biết câu chuyện sâu thẳm bên trong, nhưng Trịnh Nam Sơn khéo léo
không nhắc đến nhân vật trong Con đường màu xanh.
Anh bảo: “Thường tôi chỉ viết cho “tình yêu” của mình
chứ không cho “người yêu” của mình. Tôi viết vì cảm xúc trong lòng mình
chứ không vì người khác. Vì vậy cho dù sau này nếu không còn yêu nhau
nữa thì những cảm xúc trong bài hát vẫn mãi trọn vẹn”.
Dĩ vãng là tác phẩm đầu tay của Trịnh Nam Sơn. Ban đầu
đây là tác phẩm nhạc khí anh viết khi đang theo học về khí nhạc và chỉ
huy dàn nhạc tại trường Dick Grove School of Music ở Hollywood.
Tính đến
nay, anh đã viết mấy chục bản khí nhạc và hai bản nhạc phim tài liệu.
Sau này, khi muốn phổ biến Dĩ vãng, Trịnh Nam Sơn đã
nhờ mấy người bạn là nhà thơ viết giúp cho phần lời, nhưng họ nói không
có thời gian. Anh đành tự viết lời Việt.
Sau đó, anh nhờ đạo diễn Lưu
Huỳnh, lúc đó cũng học cùng trường với Trịnh Nam Sơn, nhưng học về đạo
diễn làm giúp một video ca nhạc.
Lúc gửi gắm tác phẩm của mình cho Lưu Huỳnh, anh cũng
chưa nghĩ là mình sẽ hát, mà định mời ca sỹ. Khổ nỗi, lúc đó, người ta
chưa biết đến Trịnh Nam Sơn là ai, nên anh mời hết người nọ, đến người
kia đều bị từ chối. Thế là, anh quyết định tự hát.
Không những thế, anh còn tự đánh ghi ta, đệm đàn piano
và thổi kèn saxophone cho bài hát của mình.
Với sự nhiệt tình giúp đỡ
của Lưu Huỳnh, album đã được quay khá công phu. Dĩ vãng được thu vào
băng nhựa VHS là công nghệ mới nhất thời đó.
Khi quay xong, Trịnh Nam Sơn cũng chưa nghĩ đến chuyện
lỗ lãi. Chỉ đơn giản nghĩ rằng, làm thế nào để giới thiệu album này tới
nhiều người. Hồi đó, chưa có nhiều phương tiện quảng bá như bây giờ.
Trịnh Nam Sơn đã đi gõ cửa hết trung tâm sản xuất băng
đĩa này, đến trung tâm sản xuất băng đĩa kia của cộng đồng người Việt
tại Hải ngoại, nhưng đều nhận được những cái lắc đầu. Không nản chí, anh
quyết định tự đi phát hành. Anh thiết kế poster đĩa nhạc của mình rồi
đi dán khắp nơi.
Rồi Dĩ vãng cũng được ra mắt, tại một quán café. Đến
giờ, Trịnh Nam Sơn vẫn còn nhớ mãi ngày đó.
Anh thuê một quán café nhỏ,
thuê dàn âm thanh xịn và đến đó trình diễn. Anh kể, khán giả có mặt ở
đây rất ấn tượng, nhưng rồi, cái tên Trịnh Nam Sơn và Dĩ vãng vẫn nhạt
nhòa với số đông.
Thời đó, quảng cáo hữu hiệu nhất là tới tiệm bán máy
video, cho họ mượn băng để thử máy. Những người đi mua đầu video thấy lạ
với một clip ca nhạc có hình ảnh chất lượng cao hơn rất nhiều so với
băng video thông thường.
Và mọi người bắt đầu để ý tới nhạc của Trịnh Nam Sơn.
Cuối cùng, trời không phụ lòng người, hãng thu thanh Khánh Hà đã mua bản
quyền và sản xuất đĩa nhạc, nhờ đó mà Dĩ vãng được đưa đến công chúng.
Sau này, Trịnh Nam Sơn và Khánh Hà thường xuyên hợp
tác với nhau. Khánh Hà cũng thường xuyên hát bài của Trịnh Nam Sơn trong
nhiều năm ở hải ngoại.
Năm 91, Trịnh Nam Sơn tiếp tục ra đĩa nhạc Về
đây em rất được yêu chuộng tại hải ngoại và tới cuối năm 91 là Con
đường màu xanh.
Khoảng 94, khi nhạc Việt Nam bắt đầu bị cạnh tranh bởi
nhạc Hoa lời Việt, nhạc Âu Mỹ lời dịch, Trịnh Nam Sơn chuyển sang làm
tư vấn bất động sản và chỉ còn “dạo chơi trong vườn hoa âm nhạc”.
St theo TGAN
Thứ Sáu, 13 tháng 9, 2013
Tự Tình Cùng Đất Nước
Những tháng ngày tôi còn nhỏ xíu
Ôm tập vở nhàu theo bạn bè đến lớp
Nước mắt chảy quanh sợ sệt đủ điều
Đất nước quanh tôi là cô giáo nhỏ
Dạy tôi i tờ và đọc ca dao
Buổi sáng có loài chim nào hót quá hay
Chim chìa vôi hay chim chào mào
Rót vào lòng tôi nỗi nhớ
Rót vào lòng tôi niềm thương yêu
Và niềm dịu ngọt
Tôi đi dạo ven vùng quê thơ ấu
Tuổi thơ như cánh diều no gió
Ngất ngưỡng trong một trời chiêm bao
Những tên gọi như Gò Chùa, Gò Ông Đốc
Những dòng suối mát lạnh trưa hè
Suối Sầu Đế, suối Đập Lạnh
Ngọt ngào trong trái tim tôi.
Ơi vùng quê thơ ấu của tôi
Một dãy trời xanh ngắt
Có loài bướm nhỡn nhơ
trong khu vườn trí tưởng
Có loài chim hút mật
Cất tiếng kêu yêu thương
Rũ tôi về vùng trời hồng
Đó là đất nước, phải không?
Những tháng ngày tôi lớn lên
Đọc được dăm câu truyện Kiều
Tôi mê Nguyễn Du quá đổi
Và thương Thúy Vân
Và yêu Thúy Kiều
Sao cuộc đời Kiều mưa gió quá!
Tôi yêu thích Chinh Phụ Ngâm
Người vợ chờ chồng đi chiến đấu
Với một lòng thủy chung
như bài hát
“Chinh chiến miền xa, con ơi
Cha con chinh chiến miền xa”
Tôi nghe mà rưng rưng nước mắt
Tôi yêu cô Loan trong Đoạn Tuyệt
Tôi yêu cô Mai trong Nửa Chừng Xuân
Tôi yêu cô Nhung trong Lạnh Lùng
Những nhân vật của những nhà văn
Nhóm Tự Lực Văn Đoàn bất tử
Một Nhất Linh trong tâm tưởng tôi nở rộ
Những đoá hoa hồng thắm
Tôi lớn lên với tình yêu của Mẹ
Tình yêu của Em
Những ngày đầu tiên rộn rã
Đâu đâu cũng nghe tiếng chim ca
Đâu đâu cũng là mật ngọt
(những mật đắng sau này
Em làm sao thấu được)
Tình em đã cho tôi
Là trái tim vội vã
Là nỗi nhớ thương một tà áo lụa
Một mái tóc dài đen mượt
Nhánh mũi dọc dừa của em
Làm tôi chết đi nửa đời nửa đoạn
Tôi hạnh phúc để mà yêu em
Dù em hành hạ tôi tận lực
Dù em đốt cháy tôi thành tro than
Tôi vẫn một mực yêu em
Vì tôi kiếm tìm em suốt thời thơ ấu
Vì Em cùng nghĩa với Mẹ
Cùng nghĩa với Quê Hương, Đất Nước
Có phải thế không?
Hởi em yêu thương một đời
Rồi những cánh chim cũng sẽ dừng bay
Sẽ đậu trên bến bờ thương nhớ
Tôi nghe dưới mạch đất ngầm cũng cựa quậy
Những làn sóng tin yêu
Đàn chim đậu trên tầng cao của mây trời
Cũng vọng về đất nước
Sẽ hát bài ca về cổ tích
Có Mẹ Âu Cơ
Có Mẹ Châu Long
Ngàn đời dang tay vẫy gọi
Hãy về cùng non nước
Phải về chứ
Về để được đi trên cầu Long Biên
Được đi trên cầu Trường Tiền
Được vào lăng tẩm
Ta sẽ vịn vào văn bia tiến sĩ
Thấm mồ hôi tài hoa của tiền nhân
Sẽ vịn vào từng nấm mộ của bạn bè
Và ngợi ca tiếc thương
Những anh hùng vô danh đã chết
Phải về chứ
Phải không em
Vì đó là Đất Nước
Đất của ta
Và Nước của ta
Không bao giờ mất được.
TRẦN YÊN HÒA
Ôm tập vở nhàu theo bạn bè đến lớp
Nước mắt chảy quanh sợ sệt đủ điều
Đất nước quanh tôi là cô giáo nhỏ
Dạy tôi i tờ và đọc ca dao
Buổi sáng có loài chim nào hót quá hay
Chim chìa vôi hay chim chào mào
Rót vào lòng tôi nỗi nhớ
Rót vào lòng tôi niềm thương yêu
Và niềm dịu ngọt
Tôi đi dạo ven vùng quê thơ ấu
Tuổi thơ như cánh diều no gió
Ngất ngưỡng trong một trời chiêm bao
Những tên gọi như Gò Chùa, Gò Ông Đốc
Những dòng suối mát lạnh trưa hè
Suối Sầu Đế, suối Đập Lạnh
Ngọt ngào trong trái tim tôi.
Ơi vùng quê thơ ấu của tôi
Một dãy trời xanh ngắt
Có loài bướm nhỡn nhơ
trong khu vườn trí tưởng
Có loài chim hút mật
Cất tiếng kêu yêu thương
Rũ tôi về vùng trời hồng
Đó là đất nước, phải không?
Những tháng ngày tôi lớn lên
Đọc được dăm câu truyện Kiều
Tôi mê Nguyễn Du quá đổi
Và thương Thúy Vân
Và yêu Thúy Kiều
Sao cuộc đời Kiều mưa gió quá!
Tôi yêu thích Chinh Phụ Ngâm
Người vợ chờ chồng đi chiến đấu
Với một lòng thủy chung
như bài hát
“Chinh chiến miền xa, con ơi
Cha con chinh chiến miền xa”
Tôi nghe mà rưng rưng nước mắt
Tôi yêu cô Loan trong Đoạn Tuyệt
Tôi yêu cô Mai trong Nửa Chừng Xuân
Tôi yêu cô Nhung trong Lạnh Lùng
Những nhân vật của những nhà văn
Nhóm Tự Lực Văn Đoàn bất tử
Một Nhất Linh trong tâm tưởng tôi nở rộ
Những đoá hoa hồng thắm
Tôi lớn lên với tình yêu của Mẹ
Tình yêu của Em
Những ngày đầu tiên rộn rã
Đâu đâu cũng nghe tiếng chim ca
Đâu đâu cũng là mật ngọt
(những mật đắng sau này
Em làm sao thấu được)
Tình em đã cho tôi
Là trái tim vội vã
Là nỗi nhớ thương một tà áo lụa
Một mái tóc dài đen mượt
Nhánh mũi dọc dừa của em
Làm tôi chết đi nửa đời nửa đoạn
Tôi hạnh phúc để mà yêu em
Dù em hành hạ tôi tận lực
Dù em đốt cháy tôi thành tro than
Tôi vẫn một mực yêu em
Vì tôi kiếm tìm em suốt thời thơ ấu
Vì Em cùng nghĩa với Mẹ
Cùng nghĩa với Quê Hương, Đất Nước
Có phải thế không?
Hởi em yêu thương một đời
Rồi những cánh chim cũng sẽ dừng bay
Sẽ đậu trên bến bờ thương nhớ
Tôi nghe dưới mạch đất ngầm cũng cựa quậy
Những làn sóng tin yêu
Đàn chim đậu trên tầng cao của mây trời
Cũng vọng về đất nước
Sẽ hát bài ca về cổ tích
Có Mẹ Âu Cơ
Có Mẹ Châu Long
Ngàn đời dang tay vẫy gọi
Hãy về cùng non nước
Phải về chứ
Về để được đi trên cầu Long Biên
Được đi trên cầu Trường Tiền
Được vào lăng tẩm
Ta sẽ vịn vào văn bia tiến sĩ
Thấm mồ hôi tài hoa của tiền nhân
Sẽ vịn vào từng nấm mộ của bạn bè
Và ngợi ca tiếc thương
Những anh hùng vô danh đã chết
Phải về chứ
Phải không em
Vì đó là Đất Nước
Đất của ta
Và Nước của ta
Không bao giờ mất được.
TRẦN YÊN HÒA
Điều giản dị mang tên 'tình bạn'
Khi tôi bị lạc trong một đường hầm tăm tối, tôi muốn có một người nào
đó yêu quý tôi đủ nhiều để có thể ngồi cạnh tôi trong bóng đêm mà chia
sẻ chứ không phải một ai đó đứng ngoài cuộc và bảo tôi phải làm gì.
Mỗi khi bị tổn thương, tôi muốn gần gũi với những người bạn thật sự
yêu thương mình và có thể cùng san sẻ. Có thể họ không có khả năng đưa
ra bất kỳ lời khuyên nào, nhưng họ có thứ tình cảm vô cùng quý giá ấy.
Trên thế gian nếu như có người bạn biết chia sẻ với người khác, thì đó
chính là người bạn luôn quan tâm chăm sóc như bạn đối với tôi vậy.
Đó là
tình bạn bè sâu đậm theo năm tháng cùng học chung một lớp và trong trái
tim của chúng ta vẫn lưu lại tình cảm ấm áp ấy.
Nhân gian làm sao có thể không có bạn! Không có bạn thì dù đứng dưới
ánh mặt trời cũng cảm thấy giá lạnh, dù sống trong dòng người đông đúc
cũng cảm thấy cô độc và tĩnh mịch. Bạn đã tiếp cho tôi thêm sức sống khi
tôi thất vọng.
Bạn đã cho tôi niềm tin khi tôi bị hiểu lầm, bạn đã
cho tôi niềm an ủi khi tôi buồn đau. Tôi biết bạn sẽ luôn động viên tôi
bằng giọng nói dịu dàng và những nhận xét đầy khích lệ. Chính bạn đã
giúp tôi tin tưởng vào giá trị của bản thân, đồng thời luôn biết cách cổ
vũ để tôi không ngừng nỗ lực cho niềm đam mê của mình.
Cây tùng, cây bách chỉ sống lâu khi nó trên núi cao, hoa mai chỉ nở khi
tuyết bay. Vàng thực được tôi luyện trong lửa, tình bạn được đúc
kết trong cuộc sống hàng ngày. Và tôi biết bạn là người sẽ không khi
nào quên chúc mừng sinh nhật tôi hay bất kỳ ngày lễ nào trong năm. Tình
bạn ấy làm cho ngày tháng của tôi thêm tươi đẹp, khiến thế gian tràn
ngập tiếng cười...
Bạn như đóa hoa Uất Kim Hương -Tulip mộc mạc nở trong thung lũng, tự khô héo
nhưng không bao giờ nuối tiếc, lúc hoa thắm sắc không kiêu ngạo, lúc hoa
tàn cũng chẳng oán than, thanh nhã tỏa hương thơm tinh khiết, như một
mùa xuân vĩnh viễn.
Nét duyên dáng và dịu dàng của bạn đã hiện lên vẻ
đẹp của tuổi trẻ, luôn nhiệt tình thân thiện và đặc biệt nồng hậu...
Bạn có những phẩm chất tốt đẹp đó, thật khiến cho người ta phải yêu mến!
Tình bạn của chúng ta có lúc vui có lúc buồn, có lúc lo lắng có lúc hân
hoan, cũng giống như thưởng thức trà hoa nhài, có các vị đắng chát
và mùi hương dịu nhẹ, trong tim chúng ta vẫn còn lưu lại mãi hương vị
khó quên đó. Bạn như một chiếc dù, có lúc để tôi che nắng, có lúc để tôi
che mưa, luôn có mặt mỗi khi tôi cần, là cầu bắc giữa lòng và lòng, chở
càng nặng càng thêm vững chắc.
Không có những tháng ngày sóng gió thì đó là những ngày bình thường,
không có những ngày tháng chờ mong thì đó là những ngày trầm tĩnh, không
có bạn ở bên thì cuộc sống nhạt nhẽo vô cùng...
Từ trong tấm lòng chân
thật tôi xin cầu nguyện cho bạn có được cuộc sống an lành, có một nguồn
vui hạnh phúc và luôn đạt được mọi thứ tốt đẹp trong cuộc sống...
Cảm ơn
bạn, tôi cảm ơn sự trân trọng, nụ cười, niềm tin, tín nhiệm mà bạn dành
cho tôi. Nhưng điều quan trọng hơn hết, tôi cảm ơn vì bạn là người bạn
hiền từ và tuyệt vời như thế!
Nếu trong rừng có hai con đường mòn:
Một con đường đầy hoa cỏ thơm
ngát, chưa dấu chân người; một con đường dày đặc dấu chân, đã có nhiều
người đi qua. Bạn sẽ chọn con đường nào?
Tôi tin rằng bạn sẽ đi theo con
đường mới..
. Có nhiều vấn đề chúng ta phải tìm cách sống chung với nó.
Khi chúng ta bước ra ngoài phạm vi đáy giếng bé nhỏ của cuộc sống mình
để bước vào một thế giới khác, bước vào cuộc sống của mọi người xung
quanh, chúng ta sẽ bước ra khỏi những vấn đề của mình một cách dễ dàng
và nhanh chóng hơn.
Nếu biết bước ra, hoà mình vào thế giới, chúng ta sẽ
thấy rằng thế giới này thật to lớn, luôn đủ sức để hoá giải và làm tan
biến những bất ổn của mình.
Hãy tin tưởng rằng: Khi bạn đi vào nhà ga
của sự đau khổ, tôi sẽ dùng tình bạn chân thành để mua cho bạn một chiếc
thẻ thông hành đi đến "ngày mai"...
Chẳng có khóa học nào dạy chúng ta cách trở thành một người bạn thân,
hay tìm một người bạn thân như thế nào?
Tôi thật may mắn vì đã tìm được
một người bạn thân đúng nghĩa để gắn bó lâu dài.
Màu xanh là màu sắc của
sinh mệnh và sự lãng mạn, là màu của lá.
Từ đáy lòng mình tôi rất muốn
tặng bạn một chiếc lá màu xanh, để hoà tan tình bạn của tôi trong màu lá
xanh tươi đó...
Thái Hà
Câu chuyện của hai vĩ nhân
Một câu chuyện có thật xảy ra vào năm 1892 tại Đại học Stanford.
Có một cậu sinh viên 18 tuổi đang gặp khó khăn trong việc trả tiền
học.
Cậu là một đứa trẻ mồ côi và không biết đi đâu để kiếm ra
tiền.
Thế là cậu bèn nảy ra một sáng kiến. Cậu cùng một người
bạn khác quyết định tổ chức một buổi nhạc hội ngay trong khuôn viên
trường để gây quỹ cho việc học.
Họ tìm đến người nghệ sĩ dương cầm đại tài Ignacy J.Paderewski.
Người quản lý của Paderewski yêu cầu một khoản chi phí bảo đảm $ 2.000 dollar
Mỹ để cho ông ấy được biểu diễn.
Sau khi họ thỏa thuận xong, hai người
sinh viên ấy bắt tay ngay vào công việc chuẩn bị để cho buổi trình diễn
được thành công.
Ngày trọng đại ấy cuối cùng đã đến.
Paderewski cuối cùng cũng đã biểu
diễn tại Stanford. Thế nhưng không may là vé vẫn chưa được bán hết.
Sau khi tổng kết số tiền bán vé lại, họ chỉ có được $ 1.600 đôla Mỹ.
Quá
thất vọng, họ đến chỗ của của Paderewski để trình bày hoàn cảnh của
mình.
Hai người sinh viên ấy đưa Paderewski toàn bộ số tiền bán vé, cùng
với một tờ giấy ghi nợ 400 đôla Mỹ, và hứa rằng họ sẽ trả số nợ ấy sớm
nhất có thể.
"Không", Paderewski nói
- "Cái này không thể nào chấp nhận được".
Ông xé tờ giấy ghi nợ và trả lại $ 1.600 đôla Mỹ cho hai chàng thanh niên
và nói: "Đây là 1.600 đôla Mỹ, sau khi trừ hết tất cả các chi phí cho
buổi biểu diễn thì còn bao nhiêu các cậu cứ giữ lấy cho việc học. Còn dư
bao nhiêu thì hãy đưa cho tôi".
Hai cậu sinh viên ấy vô cùng bất ngờ,
xúc động cảm ơn Paderewski..
Đây chỉ là một việc làm nhỏ, nhưng đã chứng minh được nhân cách tuyệt vời của Paderewski.
Tại sao ông ấy có thể giúp hai người mà ông ấy thậm chí không hề
quen biết.
Chúng ta tất cả đều đã bắt gặp những tình huống như vậy trong
cuộc sống của mình. Và hầu hết chúng ta đều nghĩ: "Nếu chúng ta giúp
họ, chúng ta sẽ được gì?"
. Thế nhưng, những người vĩ đại họ lại nghĩ
khác: "Giả sử chúng ta không giúp họ, điều gì sẽ xảy ra với những con
người đang gặp khó khăn ấy?".
Họ không mong đợi sự đền đáp. Họ làm chỉ
vì họ nghĩ đó là việc nên làm, vậy thôi.
Người nghệ sĩ dương cầm tốt bụng Paderewski hôm nào, sau này trở thành
thủ tướng của Ba Lan. Ông ấy là một vị lãnh đạo tài năng.
Thế
nhưng không may chiến tranh thế giới nổ ra, và đất nước của ông bị tàn
phá nặng nề.
Có hơn một triệu rưỡi người Ba Lan đang bị chết đói, và bây
giờ chính phủ của ông không còn tiền để có thể nuôi sống họ được nữa.
Paderewski không biết đi đâu để tìm sự giúp đỡ. Ông bèn đến cơ quan
cứu trợ lương thực Mỹ để nhờ.
Người đứng đầu cơ quan đó chính là Herbert Hoover,
người sau này trở thành tổng thống Mỹ. Ông Hoover đồng ý giúp đỡ và
nhanh chóng gửi hàng tấn lương thực để cứu giúp những người Ba Lan đang
bị đói khát ấy.
Thảm họa cuối cùng cũng đã được ngăn chặn. Thủ tướng Paderewski lúc bấy
giờ mới cảm thấy nhẹ nhõm.
Ông bèn quyết định đi sang Mỹ để tự mình cảm
ơn ông Hoover vì cử chí cao quý của ông ấy đã giúp đỡ người dân Ba Lan
trong những lúc khó khăn.
Thế nhưng khi Paderewski chuẩn bị nói câu cảm
ơn thì ông Hoover vội cắt ngang và nói: "Ngài không cần phải cảm ơn tôi
đâu, thưa ngài thủ tướng.
Có lẽ ngài không còn nhớ, nhưng những năm
trước, ngài có giúp đỡ hai cậu sinh viên trẻ tuổi ở bên Mỹ được tiếp tục
đi học, và tôi là một trong hai chàng sinh viên đó đấy".
Thế giới này thật tuyệt vời, khi bạn cho đi thứ gì, bạn sẽ nhận lại được những điều tương tự.
Haley
(dịch từ Academictips )
(dịch từ Academictips )
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)